yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7
yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7
yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7

Ánh Sáng Lẽ Thật

Khám phá
tình yêu thương
và SỰ CÔNG BÌNH của Đức Chúa Trời.

yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7

2026 - Quý 3 | Thư Tín Cô-rinh-tô

2026 Q3 L4

BÀI HỌC 4 | 18– 24 Tháng 7

Vai Trò Của Kinh Thánh

ĐỌC KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Cô-rinh-tô 5:1–13, 2 Cô-rinh-tô 2:5–10, 1 Cô-rinh-tô 6:1–13, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1–8, 1 Cô-rinh-tô 6:19–7:9.

CÂU GỐC: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 6:19, 20).

Trong suốt lịch sử Cơ Đốc giáo, các nhà thần học, mục sư và tín hữu đã nghiên cứu Tân Ước để xác định hội thánh nên có hình ảnh như thế nào. Chẳng hạn, chúng ta ngưỡng mộ hội thánh trong sách Công vụ. Nhưng chúng ta nhanh chóng đánh mất một yếu tố quan trọng: con người luôn có những vấn đề. Dường như chúng ta cũng có thể đọc Tân Ước để thấy Kinh Thánh nói gì về những điều mà một hội thánh không nên có. Các thư của Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô là một điểm khởi đầu tốt cho việc này.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 5:1–13. Phao-lô mô tả tình trạng tai tiếng nào trong phân đoạn này, và vì sao điều đó lại gây kinh động như vậy?

Cụm từ “vợ của cha mình” (1 Cô-rinh-tô 5:1) cho thấy Phao-lô đang nói đến mối quan hệ loạn luân giữa một người đàn ông và kế mẫu của mình. Tình trạng này có lẽ đã được “người nhà Cơ-lô-ê” báo cáo (1 Cô-rinh-tô 1:11). Loạn luân được xem là một tội kinh khủng đến nỗi “dân ngoại cũng chẳng có như vậy” (1 Cô-rinh-tô 5:1). Thế mà giờ đây điều đó lại đang xảy ra trong một Hội thánh Cơ Đốc thời ban đầu sao? Những lời của Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 5:1, 2 cho thấy ông bị chấn động trước tin báo rằng một tín hữu trong Hội thánh đang làm điều này.

Tuy nhiên, tình trạng xấu này còn trở nên tệ hơn. Phao-lô còn kinh ngạc hơn khi nhận ra rằng thay vì đau buồn về tình trạng ấy, người Cô-rinh-tô thậm chí còn tự hào về việc họ dung túng một tội lỗi như vậy (1 Cô-rinh-tô 5:1, 2). Vì thế, ông dự định sửa dạy không chỉ người đàn ông vô luân ấy mà còn cả Hội thánh, vì sự bất nhất rõ ràng giữa đức tin và cách sống của họ. Thật vậy, Phao-lô liên tục làm rõ rằng thái độ dung túng của Hội thánh đối với người đàn ông loạn luân ấy cần phải được sửa trị. Nhưng tự hào về một tai tiếng tình dục như vậy, thậm chí còn khoe khoang về điều đó (1 Cô-rinh-tô 5:2, 6)! Điều này vượt quá sức chịu đựng của Phao-lô. Những người này có vấn đề gì vậy?

Chúng ta không có lời giải thích vì sao Hội thánh tại Cô-rinh-tô lại dung túng cho người đàn ông loạn luân ấy đến vậy. Có lẽ ông ta là một tín hữu giàu có mà Hội thánh được lợi từ người ấy? Hoặc có thể vì “mọi sự đều có phép làm” (1 Cô-rinh-tô 6:12), nên họ đã không xem điều đó rất nghiêm trọng đến như vậy. Chúng ta hoàn toàn không biết rõ.

Dù lý do thật sự là gì đi nữa, thì họ đã trở nên mù lòa trước một sự vi phạm Kinh Thánh trắng trợn (Lê-vi Ký 18:7, 8). Và họ thậm chí còn tự hào về điều đó.

Có những điều nào bị Kinh Thánh lên án rõ ràng mà chúng ta, với tư cách là Hội thánh, đang có nguy cơ dung túng dưới danh nghĩa của “tình yêu thương” và “sự chấp nhận”?

Giải quyết các vấn đề liên quan đến tình dục luôn luôn khó khăn. Điều đó khó đối với Phao-lô, và cũng khó đối với chúng ta. Trong những tình huống này, chúng ta phải trung tín với Kinh Thánh và giải quyết vấn đề bằng sự cầu nguyện cùng tình yêu thương. Chúng ta không bao giờ được quên rằng mục tiêu của chúng ta là phục hồi.

Đọc lại 1 Cô-rinh-tô 5:1–13. Phao-lô bảo họ phải giải quyết tình trạng này như thế nào?

Phao-lô nói rõ trong 1 Cô-rinh-tô 5 rằng những tai tiếng về tình dục đòi hỏi kỷ luật Hội thánh. Ông nói rằng người đàn ông loạn luân ấy phải bị loại khỏi Hội thánh (1 Cô-rinh-tô 5:2), bị xét đoán (1 Cô-rinh-tô 5:3), bị phó cho Sa-tan (1 Cô-rinh-tô 5:5), và phải “trừ bỏ” (1 Cô-rinh-tô 5:13). Các tín hữu được dặn “đừng làm bạn” với người ấy (1 Cô-rinh-tô 5:9, 11), cũng “đừng ăn chung” với một người như vậy (1 Cô-rinh-tô 5:11). Phao-lô dùng ngôn ngữ mạnh mẽ, có thể nghe quá nghiêm khắc đối với người ngày nay, nhưng những lời của ông phải được hiểu trong bối cảnh lịch sử của thời đó. Cũng cần nhớ rằng ông đang xử lý một lối sống tội lỗi nghiêm trọng. Thông thường, trong những tình huống cực đoan, ngôn ngữ mạnh mẽ là cần thiết. Dù sao, một lời giải thích ngắn về một số cách diễn đạt cũng hữu ích.

“Hãy trừ bỏ kẻ ấy khỏi anh em” (1 Cô-rinh-tô 5:2; cũng xem 1 Cô-rinh-tô 5:13). Điều này nói đến kỷ luật Hội thánh.

“Hãy phó người như thế cho Sa-tan” (1 Cô-rinh-tô 5:5). Vì người này không chọn ở dưới sự bảo vệ của Đức Chúa Trời bằng cách sống trong sự vâng phục Ngài, người ấy sẽ dễ bị Sa-tan tấn công. Vì vậy, cách diễn đạt này có thể chỉ đơn giản có nghĩa như: “Hãy để người ấy gặt lấy kết quả của những quyết định mình.”

“Đừng làm bạn” (1 Cô-rinh-tô 5:9, 11), “đừng ăn chung” với một người như vậy (1 Cô-rinh-tô 5:11). Sự giao tiếp thân mật với những người gian dâm được xem là nguy hiểm vì họ có thể ảnh hưởng khiến người khác bắt chước cách sống của họ. Trong thời cổ đại, ăn chung có thể đồng nghĩa với việc chia sẻ các giá trị. Tất cả chúng ta đều dễ bị ảnh hưởng bởi những điều chung quanh mình, và chúng ta cần bảo vệ bản thân tốt nhất có thể, đặc biệt khi đối diện với những vấn đề như thế này.

“Hầu cho linh hồn người ấy được cứu” (1 Cô-rinh-tô 5:5). Kỷ luật Hội thánh mang tính phục hồi. Mục đích của nó là đưa tội nhân tỉnh ngộ và khiến họ từ bỏ lối sống tội lỗi. Có thể đây là điều Phao-lô muốn nói qua cụm từ “hủy hoại phần xác” (1 Cô-rinh-tô 5:5). Cũng có thể người đàn ông loạn luân trong 1 Cô-rinh-tô 5 chính là người đã ăn năn được nhắc đến về sau (xem 2 Cô-rinh-tô 2:5–10). Kỷ luật Hội thánh đạt được mục đích khi tín hữu lầm lỗi được tái hòa nhập vào sự thông công của Hội thánh.

Trong 1 Cô-rinh-tô 6:1–11, Phao-lô tiếp tục thảo luận về cách Cơ Đốc nhân nên tiếp cận những vấn đề liên quan đến những người trong Hội thánh.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 5:3, 12, 13 và 1 Cô-rinh-tô 6:1–13. Phao-lô đang cố gắng dạy người Cô-rinh-tô và chúng ta điều gì?

Từ Hy Lạp pragma trong 1 Cô-rinh-tô 6:1, được dịch là “việc” trong bản New King James Version, là một từ chung có nghĩa là “sự việc.” Ở đây, nó chỉ một vấn đề pháp lý. Điều quan trọng cần nhớ là 1 Cô-rinh-tô 6:1–11 không nói đến một vụ án hình sự. Thẩm quyền của tòa án dân sự trong các vấn đề hình sự được khẳng định trong Rô-ma 13:1–5. Phao-lô đề cập đến một vụ kiện tụng ngay sau khi nói về trường hợp gian dâm, giống như Môi-se đã làm trong Phục truyền Luật lệ Ký 22:22–24. Điều này cho thấy cách Phao-lô xử lý các vấn đề trong Hội thánh đặt nền tảng trên Kinh Thánh sâu sắc đến mức nào.

Việc trường hợp trong 1 Cô-rinh-tô 6:1–11 được đặt giữa các phân đoạn nói về sự gian dâm (1 Cô-rinh-tô 5; 1 Cô-rinh-tô 6:12–20) có thể cho thấy “việc” trong 1 Cô-rinh-tô 6:1 cũng liên quan đến sự gian dâm. Chúng ta không biết chắc vụ việc đó là gì, liệu là một vấn đề dân sự nhỏ, chẳng hạn như tranh chấp tài sản, hay là một vấn đề về tình dục.

pragma ấy cuối cùng là gì, Phao-lô không vui khi thấy các tín hữu trong Hội thánh đưa nhau ra tòa dân sự. Chẳng lẽ họ, là anh chị em Cơ Đốc, không thể giải quyết vấn đề giữa vòng mình, thay vì đem sự việc ra trước “kẻ không công bình” sao (1 Cô-rinh-tô 6:1)?

Cũng có thể, như một số người giả định, những người kiện tụng trong 1 Cô-rinh-tô 6:1 là người cha và người con trong 1 Cô-rinh-tô 5:1. Dù thế nào, không cần phải hiểu chính xác vụ việc là gì mới hiểu được ý chính của Phao-lô. Điều Phao-lô quan tâm chính là bản sắc của Hội thánh với tư cách là một cộng đồng Cơ Đốc trong mắt những người ngoại. Cơ Đốc nhân không nên “vạch áo cho người xem lưng” (1 Cô-rinh-tô 6:6). Họ cũng không nên dùng các phương tiện thế tục để xét đoán những vấn đề nội bộ của Hội thánh. Trong thế giới La Mã, những người có địa vị cao hơn về tài sản hoặc chức vụ chính trị thường được ưu ái tại tòa án. Trái lại, Cơ Đốc nhân phải thực thi sự phán xét theo tinh thần của Đấng Christ và phân biệt mình khỏi các tiêu chuẩn thế tục.

Hãy suy nghĩ về danh sách các thói xấu mà Phao-lô nêu trong 1 Cô-rinh-tô 5:10, 11 và 1 Cô-rinh-tô 6:9, 10. Vì sao ông liệt kê các tội về tình dục cùng với những tội khác như thờ hình tượng, trộm cắp, tham lam và tống tiền?

Đọc 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1–8. Phân đoạn này nói gì về mối liên hệ giữa sự nên thánh và việc kiêng tránh sự gian dâm?

Dù Phao-lô đang viết cho một nhóm người khác trong các câu Kinh Thánh trên, nguyên tắc này có thể được áp dụng rộng rãi cho tất cả Cơ Đốc nhân; tuy nhiên, điều đó vẫn dẫn đến câu hỏi: Chuyện gì đang xảy ra tại Cô-rinh-tô? Vì sao có có quá nhiều vấn đề như vậy?

Một số người tại Cô-rinh-tô dường như tin rằng vì phúc âm đã giải phóng họ, nên họ được phép làm bất cứ điều gì. Họ lập luận rằng cũng như bao tử được tạo dựng cho thức ăn, thân thể được tạo dựng cho tình dục, và tình dục cho thân thể (1 Cô-rinh-tô 6:13). Phao-lô đáp lại rằng đây là một sự bóp méo về tự do trong Đấng Christ. Sự thiếu chính trực trong các vấn đề tình dục không phù hợp với bản sắc Cơ Đốc và là sự lạm dụng quyền tự do được ban cho con người qua phúc âm (Rô-ma 8:2; Ga-la-ti 5:13). Chúng ta đã được giải phóng khỏi tội lỗi, chứ không được “tự do” để phạm tội (Rô-ma 8:2; Rô-ma 6:18, 22). Thật vậy, “thân thể… vì Chúa, và Chúa vì thân thể” (1 Cô-rinh-tô 6:13). Chúng ta thuộc về Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 6:15), và con người chúng ta phải được thể hiện qua cách chúng ta làm. Hai điều này gắn bó không thể tách rời. Điều này được trình bày trong 1 Cô-rinh-tô 6 theo ba cách khác nhau.

Thứ nhất, chúng ta được nhận diện là những người đã được tẩy sạch, được nên thánh được xưng công bình “nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta” (1 Cô-rinh-tô 6:11). Những tội được liệt kê trong 1 Cô-rinh-tô 6:9, 10, cũng như sự gian dâm bị lên án trong 1 Cô-rinh-tô 6:12–20, không có chỗ trong đời sống của những người đã được tẩy sạch, được nên thánh và được xưng công bình.

Thứ hai, chúng ta là chi thể của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 6:15). Điều này có nghĩa là chúng ta phải hiệp nhất với Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 6:17). Vì vậy gian dâm là sự vi phạm mối hiệp nhất đó (1 Cô-rinh-tô 6:13, 15). Ai kết hợp với một người trong quan hệ tình dục ngoài hôn nhân thì trở nên “một thân” với người ấy (1 Cô-rinh-tô 6:16). Sự hiệp nhất với Đấng Christ qua Thánh Linh phải định hướng đạo đức của Cơ Đốc nhân trong các vấn đề tình dục.

Thứ ba, thân thể chúng ta là “đền thờ của Đức Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 6:19, 20). Cách duy nhất để sống một đời sống thánh khiết với sự chính trực trong vấn đề tình dục là có mối quan hệ mật thiết với Đấng Christ qua Đức Thánh Linh. Ở nơi khác, Phao-lô nói đến kinh nghiệm trở nên đền thờ của Thánh Linh bằng cách dâng thân thể mình “làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:1).

Hãy suy nghĩ về sự đổ vỡ mà các tội tình dục đã đem đến cho nhân loại. Điều này cho chúng ta biết gì về mức độ nghiêm trọng của vấn đề này đối với Cơ Đốc nhân?

Sự khẳng định của Phao-lô rằng thân thể “là đền thờ của Đức Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 6:19) xuất hiện trong bối cảnh lời cảnh báo chống lại sự gian dâm. Là đền thờ của Thánh Linh là phương cách duy nhất để sống một đời sống thánh khiết. Hội thánh là một cộng đồng Cơ Đốc phân biệt mình với môi trường chung quanh. Chính sự hiện diện của Đức Thánh Linh làm cho điều đó trở nên khả thi.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 6:19–7:9. Phân đoạn này soi sáng như thế nào về cách một người có thể thực hành mạng lệnh “hãy tránh sự gian dâm” (1 Cô-rinh-tô 6:18)?

Có những bài học quan trọng về tình dục trong 1 Cô-rinh-tô 7. Nói một cách tổng quát, đoạn này có thể được chia thành hai phần: (1) những lời chỉ dẫn liên quan đến hôn nhân (1 Cô-rinh-tô 7:1–24) và (2) những lời chỉ dẫn liên quan đến đời sống độc thân (1 Cô-rinh-tô 7:25–40). 1 Cô-rinh-tô 7 giúp chúng ta hiểu rằng nói về tình dục là điều quan trọng và cần thiết.

Tuy nhiên, khi đọc 1 Cô-rinh-tô 7, chúng ta phải nhớ rằng Phao-lô đang trả lời những câu hỏi cụ thể liên quan đến các vấn đề trong Hội thánh Cô-rinh-tô. Nếu không, một số lời phát biểu có thể khiến người ta có ấn tượng rằng ông đánh giá thấp về hôn nhân, nhưng điều đó không đúng (1 Ti-mô-thê 4:1–3; 1 Ti-mô-thê 5:14; cũng xem Hê-bơ-rơ 13:4).

Điều đáng chú ý là mạng lệnh “hãy tránh sự gian dâm” trong 1 Cô-rinh-tô 6:18 được đặt giữa ý tưởng về sự hiệp nhất với Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 6:17) và việc trở nên đền thờ của Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:19). Có cách nào tốt hơn để tránh sự gian dâm không? Dĩ nhiên là không.

Đức Chúa Trời cũng đã tạo dựng tình dục, nhưng nó chỉ được vui hưởng trong hôn nhân. Tình dục là đặc ân dành cho đời sống hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, là hình thức hôn nhân duy nhất được Kinh Thánh chấp thuận.

Khi nói “hãy tránh sự gian dâm,” Phao-lô có thể đã nghĩ đến câu chuyện của Giô-sép (Sáng thế Ký 39:6–18). Kinh Thánh nói rằng trước những lời quyến rũ đầy dục vọng của vợ Phô-ti-pha, Giô-sép “trốn ra ngoài” (Sáng thế Ký 39:18). Điều này được nhắc đến không dưới bốn lần trong Sáng thế Ký 39:6–18. Kinh Thánh không nói trực tiếp, nhưng ngụ ý rằng Giô-sép đã chờ đợi để chỉ có quan hệ tình dục trong hôn nhân (Sáng thế Ký 41:45). Ông là người đầy dẫy Đức Thánh Linh (Sáng thế Ký 41:38) và muốn làm điều đúng trước mắt Đức Chúa Trời.

Là Hội thánh, chúng ta có thể bảo vệ chính mình khỏi những quan điểm lệch lạc về tình dục đang thống trị nền văn hóa bằng cách nào?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “A Message of Warning and Entreaty,” tr. 298–308, trong sách The Acts of the Apostles.

Điều thú vị là trong danh sách các thói xấu ở 1 Cô-rinh-tô 5:10, 11 và 1 Cô-rinh-tô 6:9, 10, sự thờ hình tượng và say sưa được liệt kê cùng với sự gian dâm. Như Phao-lô nhắc lại trong 1 Cô-rinh-tô 10:7 (so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 32:1–6), các lễ hội thờ hình tượng thường đi kèm với việc ăn uống quá độ, điều này mở đường cho sự gian dâm (1 Cô-rinh-tô 10:8). Ellen G. White nói:

“Không ai có thể hưởng phước lành của sự nên thánh trong khi họ ích kỷ và tham ăn. . . . Khả năng của cơ thể con người trong việc chống lại những sự lạm dụng áp đặt trên nó thật kỳ diệu, nhưng những thói quen sai lầm kéo dài trong việc ăn uống quá độ sẽ làm suy yếu mọi chức năng của cơ thể. Trong việc thỏa mãn khẩu vị và dục vọng lệch lạc, ngay cả những người xưng mình là Cơ Đốc nhân cũng làm tổn hại đến hoạt động tự nhiên của cơ thể và làm suy giảm sức mạnh thể chất, tinh thần và đạo đức.”—The Sanctified Life, tr. 25, 26.

“Khi một người hoàn toàn từ bỏ bản ngã, khi mọi thần tượng giả dối bị loại khỏi tâm hồn, thì khoảng trống ấy được lấp đầy bởi sự tuôn đổ của Thánh Linh Đấng Christ. Một người như vậy sẽ có đức tin hành động bởi tình yêu thương và thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi sự ô uế về đạo đức và thuộc linh.” — Ellen G. White, The Home Missionary, Tháng 11, 1893.

“Đức Chúa Trời đang tìm cách nâng chúng ta lên tiêu chuẩn cao cả, thánh khiết và thiên thượng của Ngài. Vì mục đích này, Thánh Linh Ngài không ngừng hành động trong chúng ta. . . . Những khuynh hướng tự nhiên của chúng ta, nếu không được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời sửa đổi, thì sẽ mang trong chúng mầm mống của sự chết về đạo đức.” — Ellen G. White, Manuscript 12, 1888.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Nhiều tín hữu tại Cô-rinh-tô bày tỏ ước muốn được văn hóa chung quanh chấp nhận. Vì sao điều đó lại nguy hiểm đối với bản sắc Cơ Đốc? Chúng ta có thể làm gì để ngăn chính mình khỏi phạm cùng một sai lầm?
  2. Câu hỏi tu từ của Phao-lô: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh sao?” (1 Cô-rinh-tô 6:19) khép lại một chuỗi bảy câu hỏi trong 1 Cô-rinh-tô 5–6 được mở đầu bằng công thức “Anh em há chẳng biết sao?” (1 Cô-rinh-tô 5:6; 1 Cô-rinh-tô 6:2, 3, 9, 15, 16, 19). Tất cả những câu hỏi này đều đòi hỏi một câu trả lời khẳng định và mạnh mẽ—đại loại như “Dĩ nhiên là biết.” Những câu hỏi này giúp chúng ta hiểu mối quan tâm của Phao-lô về Hội thánh như thế nào? Vì sao ngày nay chúng ta cũng nên quan tâm đến những vấn đề này?
  3. Hôn nhân đến từ Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 1:27, 28; Sáng thế Ký 2:18– 24) và phải được tôn trọng (Hê-bơ-rơ 13:4). Trong thời đại mà nhiều người xem việc tôn trọng hôn nhân là lỗi thời, làm thế nào chúng ta có thể bày tỏ cho thế gian thấy rằng hôn nhân thật sự là một món quà từ Đức Chúa Trời, được ban cho ngay trong vườn Ê-đen?
2026 Q3 L3

BÀI HỌC 3 | 11 – 17 Tháng 7

Hiệp Một Trong Đấng Christ

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Cô-rinh-tô 1:12–17, Rô-ma 1:29, 1 Cô-rinh-tô 1:10, 1 Cô-rinh-tô 3:1–4, Phi-líp 2:5–8, 2 Cô-rinh-tô 11:23–28, Cô-lô-se 1:24.

CÂU GỐC: “Hỡi anh em, tôi nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau” (1 Cô-rinh-tô 1:10).

Lời kêu gọi của Phao-lô rằng “chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau” (1 Cô-rinh-tô 1:10) là chủ đề nổi bật trong bốn đoạn đầu của 1 Cô-rinh-tô. Thật vậy, hầu hết các học giả đều đồng ý rằng sự hiệp một là chủ đề bao quát, liên kết mọi phần của bức thư này lại với nhau.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:12–17. Phần Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu thế nào về sự vô lý của việc lập phe nhóm quanh các nhà lãnh đạo địa phương? Giải pháp của Phao-lô là gì?

Phao-lô dùng những lời mạnh mẽ để mô tả sự thiếu hiệp một giữa các tín hữu trong hội thánh tại Cô-rinh-tô. Ông dùng các từ Hy Lạp schisma (“sự phân rẽ,” 1 Cô-rinh-tô 1:10) và eris (“sự tranh cạnh,” 1 Cô-rinh-tô 1:11). Danh từ schisma, cũng như động từ schizō, “chia ra,” được dùng ở những nơi khác trong Tân Ước để mô tả những bất đồng quan điểm dẫn đến việc hình thành các phe phái. Trong khi đó, danh từ eris (“sự tranh cạnh”) thường xuất hiện trong danh sách các tật xấu mà Cơ Đốc nhân không được phép thực hành.

Đọc Rô-ma 1:29, Rô-ma 13:13, 1 Cô-rinh-tô 3:3, 2 Cô-rinh-tô 12:20 và Ga-la-ti 5:20. Những tội lỗi nào khác được liệt kê cùng với eris (“sự tranh cạnh,” “sự xung đột”)? Điều này cho chúng ta biết gì về mức độ nghiêm trọng của nó?

Những bất đồng trong hội thánh Cô-rinh-tô đã lộ rõ—thậm chí dưới hình thức kiện cáo nhau (1 Cô-rinh-tô 6:1–3). Phao-lô nói với họ về những vụ kiện giữa các tín hữu rằng: “Tôi nói điều đó để anh em hổ thẹn” (1 Cô-rinh-tô 6:5). Thật vậy, họ cũng không gác bỏ những khác biệt của mình ngay cả khi dự Tiệc Thánh (1 Cô-rinh-tô 11:17–22).

Vấn đề thiếu sự hiệp một giữa các tín hữu trong hội thánh nghiêm trọng đến mức Phao-lô rất lo lắng về điều đó, và đây là vấn đề đầu tiên ông đề cập trong bức thư này gửi cho người Cô-rinh-tô.

Đọc lại 1 Cô-rinh-tô 1:12–27. Sau đó suy gẫm xem đoạn Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu thế nào về lý do vì sao phe nhóm lại nguy hiểm đối với sự hiệp một của hội thánh. Hội thánh địa phương của bạn có thể làm gì để tránh vấn đề này?

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:10. Bạn nghĩ Phao-lô muốn nói gì khi ông viết “phải hiệp một ý một lòng cùng nhau”?

Sự hình thành các phe nhóm ở đây là sự phủ nhận lòng trung thành của một người đối với Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 1:10). Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta “được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (1 Cô-rinh-tô 1:9). Chúa của chúng ta là Đấng Christ, và chúng ta phải lấy Ngài làm trung tâm. Vì vậy, câu trả lời cho những câu hỏi tu từ “Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em, hay là anh em đã nhơn danh Phao-lô mà chịu phép báp-tem sao?” (1 Cô-rinh-tô 1:13) là một tiếng “Không!” vang dội. Đấng Christ không bị phân rẽ. Chính Đấng Christ đã chịu đóng đinh vì chúng ta. Chúng ta đã chịu phép Báp-têm “nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh” (Ma-thi-ơ 28:19).

Phao-lô nói rằng chúng ta là “thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy(1 Cô-rinh-tô 12:27). Dù thân thể có nhiều phần— mỗi phần có chức năng riêng—nhưng vẫn là một thân thể. Để thân thể hoạt động đúng, mỗi phần phải làm công việc của mình tùy theo khả năng. Ẩn dụ này cho thấy Phao-lô đang tìm kiếm sự hiệp một, chứ không phải sự đồng dạng. Ông tìm kiếm sự hiệp một trong sự đa dạng. Hơn thế nữa, ông tìm kiếm sự hiệp một bất chấp sự đa dạng.

Tuy nhiên, mọi tư tưởng và ý kiến đều phải được đặt dưới quyền Đấng Christ, Chúa chúng ta. Sự thật rằng Đấng Christ là Chúa chúng ta là một khái niệm quan trọng đến mức Phao-lô lặp đi lặp lại trong phần mở đầu của 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 1:2, 7, 8, 9, 10). Vì vậy, trước khi Phao-lô bàn đến vấn đề phe nhóm và các nhà lãnh đạo con người, ông nhấn mạnh trước hết rằng tất cả chúng ta đều có Chúa Giê-su là Chúa của mình. Hội thánh không lấy các nhà lãnh đạo con người làm trung tâm. Cơ Đốc nhân lấy Chúa Giê-su làm trung tâm.

Sự nhấn mạnh đến quyền làm Chúa của Chúa Giê-su trong những câu đầu của 1 Cô-rinh-tô giúp chúng ta hiểu điều Phao-lô muốn nói qua lời: “phải hiệp một ý một lòng cùng nhau” (1 Cô-rinh-tô 1:10). Từ Hy Lạp được dịch là “hiệp một” đến từ động từ katartizō, gợi ý rằng một điều gì đó cần được phục hồi về tình trạng đúng đắn của nó. Khi tình trạng các phe nhóm hình thành xung quanh những nhà lãnh đạo con người, thì các mối quan hệ trong hội thánh cần được phục hồi về tình trạng đúng đắn, và điều đó chỉ có thể xảy ra qua sự hiệp một trong Đấng Christ cùng với việc chết đi bản ngã mà sự hiệp một ấy đòi hỏi.

Trong vài thập niên qua, một số nơi trong Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm đã nhấn mạnh việc học Kinh Thánh theo nhóm nhỏ. Sự khác nhau giữa phe nhóm và nhóm nhỏ là gì? Làm thế nào chúng ta có thể cẩn thận để các nhóm nhỏ không trở thành phe nhóm?

Nhìn chung, phe nhóm xuất phát từ việc đánh giá quá cao các nhà lãnh đạo con người. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến sự hiệp một của hội thánh và sức khỏe thuộc linh của các tín hữu, vì một quan điểm lệch lạc về chức vụ của một Cơ Đốc nhân, có thể khiến hội thánh đặt tầm quan trọng quá mức vào một số nhà lãnh đạo, gây thiệt hại cho những người khác. Hậu quả của hành vi như vậy là một bầu không khí cạnh tranh, có thể chia rẽ hội thánh. Hơn thế nữa, nếu chúng ta xem các nhà lãnh đạo con người là trung tâm của bản sắc Cơ Đốc, thì chúng ta có nguy cơ đẩy Đấng Christ ra khỏi vị trí đúng đắn trong đời sống mình.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 3:1–4. Ở đây Phao-lô mô tả sự chưa trưởng thành thuộc linh của người Cô-rinh-tô như thế nào?

Phao-lô nói rõ rằng sự trưởng thành thuộc linh giúp tín hữu biết quý trọng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 2:6, 7), là điều được truyền đạt cho chúng ta qua Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 2:13), và tương phản với sự khôn ngoan của đời này (1 Cô-rinh-tô 2:6), tức là sự khôn ngoan của loài người (1 Cô-rinh-tô 2:13). Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được bày tỏ nơi thập tự giá của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 2:1–4). Chính xác hơn, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự chịu khổ, sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ. Vì vậy, trước khi tiếp tục lời kêu gọi hiệp một (1 Cô-rinh-tô 3:1–17), Phao-lô muốn độc giả của mình nhận biết nhu cầu cần có sự khôn ngoan thật và sự trưởng thành trong Đấng Christ.

Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan và trưởng thành là những người thuộc linh, không phải xác thịt, không giống như trẻ con (1 Cô-rinh-tô 3:1). Họ dùng những điều thuộc linh để giải bày những điều thuộc linh, vì “những sự thuộc về Thánh Linh . . . phải xem xét cách thiêng liêng” (1 Cô-rinh-tô 2:13, 14). Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan và trưởng thành ăn thức ăn đặc, chứ không phải sữa (1 Cô-rinh-tô 3:2; so sánh với Hê-bơ-rơ 5:12). Người tin Chúa “chỉ ăn sữa thôi thì không hiểu đạo công bình, vì còn là thơ ấu. Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân, cho kẻ hay dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành và dữ” (Hê-bơ-rơ 5:13, 14). Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan và trưởng thành không nói: “Ta là môn đồ của Phao-lô” hoặc “Ta là của A-bô-lô” (1 Cô-rinh-tô 3:4), ám chỉ đến những người khác nhau.

Suy cho cùng, những người này cũng giống như họ, là “bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 3:9). Là hội thánh, chúng ta là ruộng, nhà và đền thờ của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 3:9, 16, 17). Tất cả chúng ta đều thuộc về Đức Chúa Trời qua Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 3:11).

Bạn đã từng trải qua kinh nghiệm thất vọng về một người mà bạn ngưỡng mộ chưa? Nếu có, bạn đã học được những bài học nào từ kinh nghiệm đó?

Đọc 1 Cô-rinh-tô 4:1, 2. Những câu Kinh Thánh này dạy gì về quan điểm đúng đắn mà một người cần có đối với các người lãnh đạo?

Trong 1 Cô-rinh-tô 3:1–4, Phao-lô ngụ ý rằng phe nhóm xuất phát từ sự thiếu trưởng thành thuộc linh. Tuy nhiên, trước khi bàn đến chủ đề này, ông khẳng định: “Chúng ta có ý của Đấng Christ” (1 Cô-rinh-tô 2:16). Cụm từ này có lẽ chỉ về cách suy nghĩ và hành động của Đấng Christ. Nói cách khác, một tín hữu có “ý của Đấng Christ” khi người ấy suy nghĩ và hành động giống Đấng Christ. Tuy nhiên, áp dụng tâm trí ấy vào mọi vấn đề của đời sống không phải là điều dễ dàng, đúng không? Trong thế giới Hy Lạp-La Mã, có rất nhiều sự cạnh tranh giữa các nhân vật chính trị, các triết gia, các nhà tư tưởng và các nhà lãnh đạo tôn giáo. Dường như sự khao khát được văn hóa chấp nhận đã khiến hội thánh Cô-rinh-tô đi theo các tiêu chuẩn thế tục. Điều này cũng có thể là một mối nguy cho hội thánh ngày nay.

Đọc Phi-líp 2:5–8. Câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu cụm từ “ý của Đấng Christ” (1 Cô-rinh-tô 2:16) như thế nào?

Cũng như tại Cô-rinh-tô, sự chia rẽ cũng đang xảy ra trong hội thánh Phi-líp (Phi-líp 2:1–4), có lẽ ở mức độ nhẹ hơn. Phi-líp 2:1–8 dạy chúng ta rằng tinh thần phục vụ giống Đấng Christ đòi hỏi phải chết đi cái tôi và những tham vọng ích kỷ, thay vào đó phải xem người khác như tôn trọng hơn chính mình, như Chúa Giê-su đã làm.

Tinh thần phục vụ giống Đấng Christ là điều Phao-lô muốn nói qua cụm từ “đầy tớ của Đấng Christ” (1 Cô-rinh-tô 4:1). Cụm từ này có thể truyền đạt ý tưởng rằng họ phục vụ Đấng Christ như những người trợ giúp hoặc cấp dưới. Rõ ràng, quan điểm đúng đắn về các người lãnh đạo phải dựa trên gương mẫu lãnh đạo của Đấng Christ. Các đầy tớ ấy còn được mô tả là “người quản trị” (1 Cô-rinh-tô 4:1, 2). Người quản trị là người được giao phó việc quản lý tài sản của người khác. Và dù chúng ta có gì đi nữa, mọi sự rốt cuộc đều thuộc về Đấng Christ.

Hãy cầu nguyện và suy gẫm về sứ điệp của Phi-líp 2:5–8. Làm thế nào chúng ta hiểu được điều phân đoạn này cho biết về tình yêu tự bỏ mình của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta? Và tại sao chúng ta cũng cần chết đi cái tôi để trong phạm vi của mình, chúng ta có thể noi theo tình yêu ấy?

Sự thật rằng chúng ta không nên lập phe nhóm, nhất là quanh các người lãnh đạo, không có nghĩa là chúng ta không nên ủng hộ các nhà lãnh đạo của mình. Chúng ta phải biết quý trọng và giúp đỡ những người dẫn dắt công việc hội thánh. Đức Chúa Trời ủy thác cho con người thực hiện chức vụ của Ngài trên đất. Những nhà lãnh đạo hội thánh bày tỏ một nếp sống phản ánh sự đầu phục được tượng trưng bởi Thập Tự Giá thì xứng đáng được lắng nghe và noi theo.

Điều này đúng bởi vì chỉ Thập Tự Giá mới có quyền năng đảo ngược mọi hình thức kiểm soát mang tính thao túng, để đưa con người đến sự đầu phục Lời Đức Chúa Trời. Các nhà lãnh đạo giống Đấng Christ quy sự thành công của chức vụ mình chỉ cho Đức Chúa Trời mà thôi. Trong chức vụ trên đất, ngay cả Chúa Giê-su với tư cách là con người cũng quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời (Giăng 17:4).

Theo Phao-lô, chức vụ của một Cơ Đốc nhân trung tín phải được đặt nền tảng trên điều chúng ta có thể gọi là thần học về Thập Tự Giá. Thập Tự Giá là sự mặc khải của Đức Chúa Trời về sự khôn ngoan và quyền năng cứu rỗi của Ngài. Đồng thời, thập tự giá cũng bày tỏ sự khôn ngoan của loài người là dại dột. Trong 1 Cô-rinh-tô 4:1–13, Phao-lô cho thấy rõ thần học về Thập Tự Giá trông như thế nào. Trước hết, ông cho biết chính Đức Chúa Trời là Đấng đặt ra tiêu chuẩn cho sự lãnh đạo của một Cơ Đốc nhân (1 Cô-rinh-tô 4:1–5). Thứ hai, ông chỉ ra rằng sự chịu khổ là dấu hiệu đặc trưng trong chức vụ của một Cơ Đốc nhân chân chính (1 Cô-rinh-tô 4:9, 11–13). Điểm thứ hai này đáng được khai triển thêm.

Đọc 2 Cô-rinh-tô 11:23–28 và Cô-lô-se 1:24. Điều này dạy chúng ta gì về ý nghĩa của việc chịu khổ vì cớ Đấng Christ?

Các nhà lãnh đạo Cơ Đốc đi theo dấu chân của Chúa Giê-su bằng cách sẵn lòng chịu khổ vì anh chị em mình, và nếu cần, thậm chí chết vì chức vụ của họ. Phao-lô gọi chính ông và A-bô-lô là “người đã định phải chết” (1 Cô-rinh-tô 4:9). Họ được mô tả là đối diện với sự thiếu ăn thiếu uống, “trần truồng, bị vả trên mặt, lưu lạc rày đây mai đó” (1 Cô-rinh-tô 4:11). Ngoài ra, họ còn bị rủa sả, bắt bớ, vu khống, và “bị coi như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người cho đến ngày nay” (1 Cô-rinh-tô 4:12, 13). Hơn nữa, khi Phao-lô dùng lối nói mỉa mai để gọi người Cô-rinh-tô là giàu có, vua chúa, khôn ngoan và tôn trọng (1 Cô-rinh-tô 4:8, 10), ông cho thấy sự kiêu ngạo không được có chỗ trong chức vụ lãnh đạo của một Cơ Đốc nhân chân chính, vì đó là gốc rễ của sự chia rẽ trong hội thánh (1 Cô-rinh-tô 4:6).

Bạn đã chịu khổ vì cớ Đấng Christ đến mức nào, bất kể vai trò của bạn trong hội thánh là gì? Những bài học nào có thể được tìm thấy trong câu trả lời của bạn?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “The Training of the Twelve,” tr. 17–24, trong The Acts of the Apostles.

“Sự đồng lòng và hiệp một của dân sót lại tin vào lẽ thật của Đức Chúa Trời đem đến cho thế gian một sự thuyết phục mạnh mẽ rằng họ có lẽ thật, và là dân đặc biệt, được Đức Chúa Trời lựa chọn. Sự đồng lòng và hiệp một này làm kẻ thù bối rối, và nó quyết tâm rằng điều ấy không được tồn tại. Lẽ thật hiện tại, được tin trong lòng và thể hiện trong đời sống, khiến dân sự Đức Chúa Trời trở nên một, và ban cho họ một ảnh hưởng mạnh mẽ.”— Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 1, tr. 327.

“Đức Chúa Trời đang dẫn dắt một dân đứng trong sự hiệp một trọn vẹn trên nền tảng của lẽ thật đời đời. Đấng Christ đã phó chính mình cho thế gian để Ngài có thể ‘thanh tẩy cho mình một dân thuộc riêng về Ngài, sốt sắng về các việc lành.’ Tiến trình thanh luyện này nhằm thanh tẩy hội thánh khỏi mọi sự không công bình và tinh thần bất hòa, tranh cạnh, để họ xây dựng thay vì phá đổ, và tập trung năng lực vào công việc lớn lao trước mặt. Đức Chúa Trời muốn toàn thể dân Ngài đều bước vào sự hiệp một của đức tin. Lời cầu nguyện của Đấng Christ ngay trước khi Ngài chịu đóng đinh là các môn đồ Ngài được hiệp một, như Ngài là một với Đức Chúa Cha, để thế gian tin rằng Đức Chúa Cha đã sai Ngài. Lời cầu nguyện cảm động và kỳ diệu nhất này trải dài qua các thời đại, cho đến tận ngày nay; vì lời Ngài là: ‘Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa.’ ”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 4, tr. 17.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Gần cuối chức vụ trên đất, Chúa Giê-su đã cầu nguyện cho sự hiệp một, “để cho ai nấy hiệp làm một . . . hầu cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến” (Giăng 17:21–23). Tại sao sự hiệp một trong Đấng Christ là một lập luận mạnh mẽ cho lẽ thật rằng Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến để cứu thế gian? Liên quan đến điều này, tại sao sự thiếu hiệp một lại là một trở ngại cho sứ mạng của hội thánh?
  2. Đọc 1 Cô-rinh-tô 4:9–13 và chú ý kỹ cách các sứ đồ được mô tả trong phân đoạn này. Cách mô tả các sứ đồ này tương phản thế nào với những đặc điểm lãnh đạo được thế gian coi trọng? Phân đoạn này dạy chúng ta gì về sự khác biệt giữa tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời và tiêu chuẩn của thế gian?
  3. Trong 1 Cô-rinh-tô 4:16, Phao-lô thúc giục người Cô-rinh-tô noi theo ông. Bạn có sẵn lòng noi theo các người lãnh đạo không? Việc noi theo một nhà lãnh đạo có thể khác với việc tôn cao nhà lãnh đạo ấy quá mức, thậm chí nguy hiểm, như thế nào?

BÀI HỌC 2 | 4 – 10 Tháng 7

Sứ Điệp Thập Tự Giá

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 1:17–31, Cô-lô-se 1:20, 1 Phi-e-rơ 2:24, Công vụ 13:16–47, 1 Cô-rinh-tô 2:1–5.

Câu Gốc: “Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 1:18).

Phao-lô nói rằng sứ điệp của Thập Tự Giá là quyền phép của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi “Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” là trung tâm trong sự rao giảng của ông (1 Cô-rinh-tô 2:2).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:17–31. Phao-lô đang nêu lên điểm quan trọng nào ở đây?

Trong 1 Cô-rinh-tô 1:18–31, Phao-lô trình bày sự tương phản giữa sự dại dột của loài người và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Thập Tự Giá có quyền bày tỏ điều tệ hại nhất của con người và điều tốt đẹp nhất của Đức Chúa Trời. Phần này của 1 Cô-rinh-tô được mở đầu bằng lời tuyên bố trong 1 Cô-rinh-tô 1:17. Vì Thập Tự Giá của Đấng Christ không được phép bị tước mất quyền năng (1 Cô-rinh-tô 1:17), nên sứ điệp của Thập Tự Giá phải giữ vị trí trung tâm trong sự rao giảng của chúng ta (cũng xem 1 Cô-rinh-tô 2:2).

Phao-lô nói rằng ông được sai đến không phải để làm phép báp-têm, nhưng để rao giảng phúc âm của Thập Tự Giá. Lời tuyên bố này yêu cầu chúng ta lưu ý hai nhận xét quan trọng. Thứ nhất, động từ Hy Lạp được dịch “sai đi” là apostellō, có cùng gốc với từ “sứ đồ.” Vì vậy, nhiệm vụ sứ đồ căn bản của Phao-lô là công bố phúc âm.

Thứ hai, lời Phao-lô nói về phép báp-têm không có nghĩa rằng phép báp-têm không quan trọng, hoặc ít nhất là không quan trọng bằng sự rao giảng. Thay vào đó, ông đang quở trách những người quá coi trọng việc ai là người làm phép báp-têm, thay vì chú ý đến Đấng duy nhất, là Chúa Giê-su, mà họ đã chịu báp-têm trong Ngài.

Khi nói “sự khôn ngoan của lời nói” (1 Cô-rinh-tô 1:17), Phao-lô không hàm ý rằng những bài diễn thuyết hùng biện tự nó là xấu. Điểm chính là sự khôn ngoan của loài người không được che khuất sứ điệp của Thập Tự Giá. Cụm từ này đề cập đến thuật hùng biện Hy Lạp-La Mã. Tại A-thên, Phao-lô đã dùng lý luận, khoa học và triết học, nhưng kết quả không nhiều. Vì thế, “ông quyết định theo một kế hoạch rao giảng khác tại Cô-rinh-tô trong nỗ lực thu hút sự chú ý của những người thờ ơ và lãnh đạm. Ông quyết định tránh những lập luận và tranh luận cao siêu, và ‘không biết gì’ giữa người Cô-rinh-tô ‘ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự.’ ”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 244.

Những bài diễn luận cao siêu có thể che khuất sứ điệp của Thập Tự Giá theo những cách nào? Tại sao việc rao giảng Đức Chúa Giê-su Christ và Ngài bị đóng đinh trên thập tự lại gặt hái nhiều kết quả hơn tại Cô-rinh-tô so với việc dùng lý luận, khoa học và triết học tại A-thên? Tuy nhiên, có khi nào lý luận, triết học và khoa học có thể hữu ích trong việc rao giảng phúc âm không?

Khi đối chiếu sự dại dột của loài người với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, Phao-lô nói rằng “lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại” (1 Cô-rinh-tô 1:18). Đây là lần đầu tiên trong sáu lần từ điên dại hoặc dại dột được nhắc đến trong 1 Cô-rinh-tô 1:18–31.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:20, 21, 23, 25 và 27. Những câu này nói đến sự điên dại như thế nào để giúp chúng ta hiểu ý Phao-lô khi ông nói rằng sứ điệp của Thập Tự Giá là sự điên dại đối với những người hư mất?

Từ Hy Lạp chỉ “sự điên dại” trong 1 Cô-rinh-tô 1:18 là mōria. Từ này chỉ xuất hiện năm lần trong Tân Ước, và tất cả đều ở trong 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 1:18, 21, 23; 1 Cô-rinh-tô 2:14; 1 Cô-rinh-tô 3:19). Ngoài mōria, những từ khác cùng gốc xuất hiện nhiều lần trong Tân Ước. Nhiều trường hợp xuất hiện của nhóm từ này trong Tân Ước được tìm thấy trong 1 Cô-rinh-tô.

Việc nhắc đến sự điên dại trong 1 Cô-rinh-tô 1:18, 23 không phải nhằm hạ thấp khả năng trí tuệ của người Cô-rinh-tô, nhưng hướng sự chú ý đến việc họ không sẵn lòng xem xét lẽ thật của phúc âm. Vì vậy, Phao-lô cũng phải đối diện với lối sống và tư tưởng vô luân, sự thiếu phân biệt, và thậm chí cả sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời.

Hãy nghĩ đến hoàn cảnh của Phao-lô trong thành phố này. Ông đến một nơi tự hào về điều họ gọi là tri thức, khôn ngoan và sự tinh tế văn hóa. Và trong bối cảnh đó, ông nói về một người Do Thái xứ Ga-li-lê, Chúa Giê-su người Na-xa-rét, Đấng đã bị người La Mã đóng đinh trên thập tự rồi sống lại từ kẻ chết—tất cả là để trả giá không chỉ cho tội lỗi của họ mà còn cho tội lỗi của cả thế gian. Người này có nghiêm túc không? Ông đang đùa với ai vậy? Đây cũng không phải là một khái niệm triết học sâu sắc mới mẻ nào đó có thể được phân tích và giải thích bằng các công cụ triết học; nó dường như là sự cuồng dại, vô nghĩa, không có gì mà một người Cô-rinh-tô thông minh và có học thức có thể xem là nghiêm túc.

Sứ điệp của Phao-lô nghe có vẻ dại dột đối với người ngoại, thì đối với nhiều người Do Thái, sứ điệp về Thập Tự Giá còn tệ hơn nữa. Có người Do Thái nào lại mong đợi một Đấng Mê-si bị La Mã xử tử? Đấng Mê-si được cho là sẽ đánh bại người La Mã, chứ không phải bị họ đóng đinh trên thập tự giá.

Vì vậy, ngay từ đầu, Phao-lô đã gặp rất nhiều trở ngại tại Cô-rinh-tô. Thế nhưng, bất chấp tất cả, nhiều linh hồn—cả người Do Thái lẫn dân ngoại—đã được chinh phục cho phúc âm. Sứ điệp ở đây là gì?

Dù chúng ta đối diện với sự chống đối nào, Đức Chúa Trời vẫn có những người sẵn lòng nghe lẽ thật. Chúng ta phải sẵn sàng để Ngài sử dụng nhằm tiếp cận những người ấy ở bất cứ nơi nào họ ở, ngay cả tại những nơi ngày nay tệ như, hoặc còn tệ hơn, Cô-rinh-tô.

Sứ điệp của 1 Cô-rinh-tô 1:18 quá rõ ràng đến nỗi không ai có thể bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Ý nghĩa của Thập Tự Giá tùy thuộc vào cách người ta nhìn nó. Đối với những người phản nghịch Đức Chúa Trời, đó là sự điên dại; nhưng đối với những người khao khát sự cứu rỗi của Ngài, đó là quyền phép.

Đọc Cô-lô-se 1:20 và 1 Phi-e-rơ 2:24. Chúa Giê-su đã làm gì cho chúng ta trên Thập Tự Giá?

Như chúng ta đã thấy, trong khi rao giảng Tin Lành, người ta phải tránh dùng “sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích” (1 Cô-rinh-tô 1:17). Dưới ánh sáng của 1 Cô-rinh-tô 1:17, chúng ta dễ hiểu hơn vì sao điều đối lập với sự điên dại là quyền phép của Đức Chúa Trời, chứ không phải sự khôn ngoan của loài người (1 Cô-rinh-tô 1:18). Thập Tự Giá, vốn hoàn toàn trái với sự khôn ngoan của loài người, bày tỏ sự khôn ngoan của loài người thật sự dại dột đến mức nào.

Bản Hy Lạp của 1 Cô-rinh-tô 1:18 gợi ý rằng “những người hư mất” đang nhận lấy kết quả từ hành động của chính họ. Câu này có thể được đọc như sau: “Vì sứ điệp của thập tự giá là sự điên dại đối với những người đang tự hủy hoại mình.” Động từ Hy Lạp apollymi (“hư mất”) cũng có thể có nghĩa là “hủy diệt” (Giăng 10:10). Thật vậy, apollymi được dịch là “hủy phá” trong 1 Cô-rinh-tô 1:19.

Điều gì đang xảy ra ở đây? Phao-lô đưa ra nền tảng Kinh Thánh cho lời tuyên bố trong câu 18 về những người hư mất này bằng cách trích lời Đức Chúa Trời trong Ê-sai 29:14 ở câu 19. Trong câu 19, Đức Chúa Trời là Đấng đứng sau sự hủy diệt, điều này dường như mâu thuẫn với lòng kiêu ngạo tự hủy hoại được nhắc đến ngay trước đó. Tuy nhiên, không có mâu thuẫn nào. Ý tưởng ở đây là Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt điều vốn đã tự hủy diệt chính nó.

Trái với những người đang bị hủy diệt, cụm từ “về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc” (1 Cô-rinh-tô 1:18) cho thấy sự cứu rỗi chỉ đến từ Đức Chúa Trời. Phao-lô nói rằng chúng ta đang được cứu; tức là chúng ta không tự cứu mình. Dĩ nhiên, chúng ta không thể tự cứu. Sự cứu rỗi của chúng ta có nguồn gốc bên ngoài chính mình. Trong khi sự hủy diệt là do tự gây ra, thì sự cứu rỗi chỉ có thể được ban cho, là món quà ân điển dành cho tội nhân. Như 1 Cô-rinh-tô 1:21 nói rõ, chính Đức Chúa Trời cứu những người tin. Trong ý nghĩa này, sự điên rồ là hành động từ chối điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại qua thập tự giá của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 1:30), và vì thế tự chuốc lấy sự hủy diệt cho chính mình.

“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23). Câu này nhắc lại điều Phao-lô đã nói trong 1 Cô-rinh-tô 1:18, 19 theo những cách nào?

Phao-lô viết rằng “người Do Thái đòi dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan” (1 Cô-rinh-tô 1:22). Thập Tự Giá—ý tưởng rằng Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si, bị đóng đinh—không phải là dấu lạ mà người Do Thái mong đợi. Nó cũng không phải là loại khôn ngoan mà người Hy Lạp tìm kiếm. Nó đi ngược lại sự mong đợi của mọi người.

Thật vậy, chỉ cần đọc cách các môn đồ phản ứng trước ý tưởng Chúa Giê-su bị đóng đinh (xem Mác 8:31, 32; Mác 9:30–32; và Mác 10:32–34), chúng ta bắt đầu thấy toàn bộ ý niệm ấy xa lạ và gây ghê sợ đến mức nào, đặc biệt đối với người Do Thái. Như đã nói trước đó, người Do Thái trông đợi Đấng Mê-si chiến thắng người La Mã; điều đó đã không xảy ra, ít nhất không “chiến thắng” theo nghĩa quân sự của thế gian.

Trong nhiều thế kỷ, đối với Cơ Đốc nhân, thập tự giá là biểu tượng của đức tin. Thật khó cho Cơ Đốc nhân thế kỷ hai mươi mốt hiểu được ý tưởng về một Đức Chúa Trời bị đóng đinh trên thập tự giá đã điên rồ thế nào đối với tâm trí thế kỷ thứ nhất.

Tuy nhiên, chính vì đây là một sứ điệp gây chấn động như vậy nên nó đáng để chúng ta suy ngẫm cách sâu sắc nhất. Hình ảnh Đấng Mê-si bị đóng đinh khiến cho toàn vũ trụ thấy rõ Đức Chúa Trời sẵn lòng đi xa đến mức nào để hoàn tất kế hoạch cứu chuộc. Chính ý tưởng về thập tự giá, và về việc Chúa chết trên thập tự giá, đã đủ làm chúng ta, những tội nhân trên đất, kinh ngạc. (Hãy tưởng tượng điều đó hẳn có ý nghĩa thế nào đối với những tạo vật vô tội, những đấng đã biết và thờ phượng Chúa Giê-su trên thiên đàng!)

Đọc Công vụ 13:16–47 (đặc biệt là các câu 26, 38 và 47). Phân đoạn này dạy chúng ta điều gì về ý nghĩa của Thập Tự Giá?

Phao-lô nói Đấng Christ đã sai ông đi rao giảng phúc âm. Vì vậy, Phao-lô rao giảng sứ điệp về Đấng Mê-si bị đóng đinh trên thập tự giá (1 Cô-rinh-tô 1:23). Ông tiếp tục những ý tưởng này trong 1 Cô-rinh-tô 2:1–5. Vị sứ đồ trung tín với sự ủy thác của Đấng Christ. Khi rao giảng phúc âm, ông không dùng “lời nói cao xa hay sự khôn ngoan” (1 Cô-rinh-tô 2:1); thay vào đó, ông chỉ tập trung vào “Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (1 Cô-rinh-tô 2:2). Lời nói và sứ điệp của ông “chẳng phải bằng diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra của Thánh Linh và quyền phép” (1 Cô-rinh-tô 2:4), vì thật ra, “sự khôn ngoan của loài người” tương phản rõ rệt với “quyền phép của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 2:5).

Đấng Mê-si bị đóng đinh là điều hoàn toàn ngoài mong đợi của người Do Thái và người Hy Lạp. Điều này cho chúng ta biết gì về sự thật rằng Đức Chúa Trời không luôn hành động theo cách chúng ta mong đợi? Tại sao đây là một khái niệm quan trọng cần nắm vững, đặc biệt khi mọi việc không diễn ra như chúng ta kỳ vọng?

Trong 1 Cô-rinh-tô 1:19, 20, 30 và 31, Phao-lô nói về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của loài người khác nhau một cách lạ lùng, vì vậy, chúng loại trừ nhau. Hãy chú ý rằng Phao-lô không bác bỏ sự khôn ngoan nói chung, nhưng ông bác bỏ loại khôn ngoan của loài người cố gắng cạnh tranh với Đức Chúa Trời, và không có khả năng giải phóng con người khỏi tội lỗi. Chỉ Đấng Christ, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, mới có thể thực hiện công việc này. Hãy xem bảng dưới đây.

nhưng về phần chúng ta, là kẻ được cứu

[sứ điệp của Thập Giá] là quyền phép của Chúa Trời

1 Cô-rinh-tô 1:18

nhưng đối với những người được gọi

Đấng Christ [là] quyền phép của Chúa Trời

1 Cô-rinh-tô 1:24

 

Cả 1 Cô-rinh-tô 1:18 và 1 Cô-rinh-tô 1:24 đều cho thấy Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời, theo nghĩa Ngài có quyền năng cứu con người khỏi tội lỗi . Thật vậy, “Đức Chúa Trời đành lòng dùng sự giảng rồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin” (1 Cô-rinh-tô 1:21). Các cụm từ “chúng ta, là kẻ được cứu” (1 Cô-rinh-tô 1:18), “những người tin” (1 Cô-rinh-tô 1:21), và “những người được gọi” (1 Cô-rinh-tô 1:24) đều nói đến cùng một nhóm người, tức là những người đang sống trong kinh nghiệm cứu rỗi bởi đức tin. “Tin Lành của Đấng Christ . . . là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô-ma 1:16).

Đấng Christ không chỉ là quyền phép mà còn là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Nghĩa là qua Ngài, Đức Chúa Trời đã đối diện và giải quyết vấn đề tội lỗi. Sự khôn ngoan của thế gian không thể làm cho con người biết Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 1:21). Trái lại, qua Đấng Christ, chúng ta trở nên khôn ngoan để được cứu rỗi (2 Ti-mô-thê 3:15).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:24–29. Hãy chú ý những từ trong đó, như “dại dột,” “yếu đuối,” “quyền phép,” và “khôn ngoan.” Qua những từ này, Phao-lô muốn nhấn mạnh điều gì?

Khi đọc 1 Cô-rinh-tô 1:24–29, chúng ta chú ý đến các thuật ngữ dại dột (hoặc sự dại dột) và yếu đuối (hoặc sự yếu đuối). Sự khôn ngoan của loài người có thể xem sứ điệp của Thập Giá là dại dột và yếu đuối. Tuy nhiên, “sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta” (1 Cô-rinh-tô 1:25). Điều này không có nghĩa Đức Chúa Trời yếu đuối hay dại dột; đó chỉ là một cách diễn đạt cho thấy quyền phép và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vượt xa mọi điều thuộc về loài người.

Hãy suy ngẫm lời này: “Trong anh em chẳng có nhiều kẻ khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng được gọi” (1 Cô-rinh-tô 1:26). Có sứ điệp nào ở đây cho chúng ta?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Calvary,” tr. 741–757, trong The Desire of Ages.

“Đối với tâm trí của nhiều người đang sống trong thời hiện tại, thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha được bao quanh bởi những ký ức thiêng liêng. Những mối liên tưởng thánh khiết gắn liền với cảnh tượng đóng đinh. Nhưng trong thời của Phao-lô, thập tự giá bị xem với cảm giác ghê tởm và kinh khiếp. Việc tôn cao một người đã chết trên thập tự giá như là Cứu Chúa của nhân loại đương nhiên sẽ khơi dậy sự chế giễu và chống đối.

“Phao-lô biết rõ sứ điệp của ông sẽ được cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp tại Cô-rinh-tô xem như thế nào. . . . Giữa những thính giả Do Thái của ông, có nhiều người sẽ tức giận bởi sứ điệp ông sắp công bố. Theo sự đánh giá của người Hy Lạp, lời ông nói sẽ là sự dại dột vô lý. Ông sẽ bị xem là người thiếu khôn ngoan khi cố gắng chứng minh rằng thập tự giá có thể liên hệ đến sự nâng cao nhân loại hoặc sự cứu rỗi của loài người.

“Nhưng đối với Phao-lô, thập tự giá là đối tượng duy nhất đáng quan tâm hơn hết. Từ khi ông bị chặn lại trong hành trình bắt bớ những người theo Đấng Na-xa-rét bị đóng đinh, ông không bao giờ ngừng khoe mình trong thập tự giá. Lúc ấy, ông đã được ban cho sự mặc khải về tình yêu vô hạn của Đức Chúa Trời, như được bày tỏ trong sự chết của Đấng Christ; và một sự biến đổi kỳ diệu đã xảy ra trong đời sống ông, khiến mọi kế hoạch và mục đích của ông hòa hợp với thiên đàng. . . . Bằng kinh nghiệm cá nhân, ông biết rằng khi một tội nhân đã nếm biết tình yêu của Chúa Cha, được bày tỏ trong sự hy sinh của Con Ngài, và đầu phục ảnh hưởng thiên thượng, thì một sự thay đổi trong lòng diễn ra, và từ đó trở đi Đấng Christ là tất cả và trong tất cả.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 245, 246.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Chúa Giê-su phán: “Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con!” (Ma-thi-ơ 26:39). Lời cầu nguyện này nói gì về cái giá vô cùng lớn mà Chúa Giê-su đã trả trên thập tự giá?
  2. Phao-lô nói: “Sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta” (1 Cô-rinh-tô 1:25). Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời khác với sự khôn ngoan của loài người theo những cách nào?
  3. Sứ điệp về Đấng Christ bị đóng đinh là sự vấp phạm đối với người Do Thái và là sự điên dại đối với người Hy Lạp. Những chủ đề Kinh Thánh nào mà chúng ta rao giảng ngày nay có thể gây ra phản ứng tương tự nơi thính giả hiện đại, và tại sao?
  4. Phao-lô nói rằng “người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 2:14). Vậy, làm thế nào chúng ta có thể nói về Chúa Giê-su với những người này theo cách có thể chạm đến lòng họ? Hay có lẽ chỉ hành động của chúng ta mới có thể chạm đến họ.

 

BÀI HỌC 1 | 27 Tháng 6 – 3 Tháng 7

Chức Vụ Của Phao-lô Tại Cô-rinh-tô

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 1:1, Ga-la-ti 1:1, Công vụ 17:16–34, 1 Cô-rinh-tô 5:9–11, Công vụ 18:4–10, 2 Cô-rinh-tô 2:4.

Câu Gốc: “Ban đêm, Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy” (Công vụ 18:9, 10).

Phao-lô, Sứ Đồ Của Chúa Giê-su, Được Kêu Gọi

Phao-lô bắt đầu thư gửi cho người Cô-rinh-tô bằng cách tự nhận mình là sứ đồ của Chúa Giê-su, được gọi “theo ý muốn Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 1:1; so sánh với 2 Cô-rinh-tô 1:1). Niềm tin của ông về việc ông là ai trong mối liên hệ với Chúa Giê-su vững chắc đến nỗi, ngoại trừ vài trường hợp, đây là cách ông mở đầu tất cả các thư của mình.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:1 và Rô-ma 1:1. Hai yếu tố nào trong chức vụ của Phao-lô được nhấn mạnh trong các câu Kinh Thánh này? (Xem thêm Ga-la-ti 1:1).

Phao-lô nói về sự kêu gọi và chức vụ sứ đồ của mình như là sự làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời. Ông tin chắc rằng sự kêu gọi của mình không đến từ loài người nhưng đến từ Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 1:1). Phao-lô được Đức Chúa Trời kêu gọi từ trong lòng mẹ như Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 1:5), là một hành động của ân điển Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 1:15), và điều đó xảy ra để ông rao giảng phúc âm của Đấng Christ giữa vòng dân ngoại.

Trong 1 Cô-rinh-tô 15:8, Phao-lô kể mình vào số những người mà Đấng Christ đã hiện ra sau sự Phục Sinh (1 Cô-rinh-tô 15:5–7). Vài câu sau đó, ông ngụ ý rằng sự kêu gọi để làm sứ đồ của mình là kết quả của cuộc gặp gỡ ấy với Chúa Giê-su (1 Cô-rinh-tô 15:9–11).

Danh hiệu “sứ đồ của Chúa Giê-su” bao hàm một loạt ý nghĩa. Trước hết, danh hiệu ấy truyền đạt ý tưởng về một người được Chúa Giê-su sai đi. Tuy nhiên, Phao-lô cũng dùng cụm từ này để xác định mình là tôi tớ của Đấng Christ (Rô-ma 1:1, Tít 1:1, Ga-la-ti 1:10), cũng là người giảng đạo và giáo sư (1 Ti-mô-thê 2:7, 2 Ti-mô-thê 1:11). Dù Phao-lô rao giảng hay dạy dỗ, Đấng Christ luôn luôn được bày tỏ. Tóm lại, Phao-lô là sứ đồ của Chúa Giê-su.

Chúa Giê-su không chỉ là trung tâm của chức vụ sứ đồ của Phao-lô; Ngài còn là trung tâm của đời sống Phao-lô. Tư tưởng và cảm xúc của Phao-lô đầy dẫy sự hiện diện của Chúa Giê-su. Bằng chứng về điều này là ông nhắc đến Chúa Giê-su nhiều lần trong phần mở đầu và phần tạ ơn của 1 Cô-rinh-tô (chín lần trong chín câu). Phao-lô yêu Chúa Giê-su quá nhiều đến nỗi ông không thể ngừng suy nghĩ và nói về Ngài. Ông muốn chia sẻ Chúa Giê-su với những người dưới sự chăm sóc của mình để đời sống họ cũng đặt Đấng Christ làm trung tâm. Trong khi ông được kêu gọi làm sứ đồ, thì họ được kêu gọi làm những môn đồ trung tín của Chúa Giê-su trong bất cứ khả năng nào mà Chúa đã kêu gọi họ.

Phao-lô được kêu gọi làm sứ đồ. Sự kêu gọi của bạn là gì, và làm sao bạn biết đó là sự kêu gọi của mình? Nếu bạn nghĩ mình không có sự kêu gọi nào, tại sao ngay bây giờ không đến cầu xin Ngài chỉ cho bạn công việc Ngài đã chọn để bạn làm?

Đọc Công vụ 17:16–34. Phao-lô đã ở đâu trước khi đến Cô-rinh-tô, và ông đã làm gì tại đó?

Công vụ 17:16–34 mô tả việc Phao-lô rao giảng cho người A-thên trước khi ông đến Cô-rinh-tô. Dường như ông không dự định đến A-thên vào lúc ấy, nhưng vì sự chống đối mà ông đã gặp phải tại Bê-rê, nên vài người bạn đã đưa ông đến đó (Công vụ 17:13–15).

Những người đưa Phao-lô đến A-thên trở về Bê-rê với lời dặn rằng Ti-mô-thê và Si-la phải đến với ông càng sớm càng tốt (Công vụ 17:15). Công vụ 17:16–34 nói về những gì Phao-lô đã làm trong khi chờ họ. Ông nói về Chúa Giê-su trong nhà hội, ngoài chợ và tại A-rê-ô-ba. Ông thật sự không thể ngừng nói về Chúa Giê-su và đã tận dụng mọi cơ hội để làm điều đó.

Đọc Công vụ 18:1–11. Phao-lô làm gì khi đến Cô-rinh-tô và trong suốt thời gian ông ở lại thành ấy?

Phao-lô đến Cô-rinh-tô trong hành trình truyền giáo thứ hai của mình. Lu-ca cho chúng ta biết rằng Phao-lô ở đó một năm sáu tháng.

Như thường lệ, Phao-lô bắt đầu hoạt động truyền giáo của mình tại nhà hội (Công vụ 18:4–6). Công vụ 17:1, 2 cho biết đây là thói quen của ông. Ông theo chiến lược “cho người Giu-đa trước hết” (Rô-ma 1:16, Công vụ 13:46), đúng như Chúa Giê-su đã truyền cho các sứ đồ của Ngài (xem Công vụ 1:8).

Cuối cùng, khi Si-la và Ti-mô-thê đến với ông tại Cô-rinh-tô, Phao-lô “hết lòng chuyên lo về sự giảng dạy, làm chứng với người Giu-đa rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ” (Công vụ 18:5). Trong thời gian ở tại Cô-rinh-tô, ông bận rộn “dạy đạo Đức Chúa Trời” (Công vụ 18:11). Chính trong bối cảnh này, ông cũng bày tỏ những lời nổi tiếng rằng ông “ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (1 Cô-rinh-tô 2:2).

Chúng ta có thể học được gì từ hoạt động truyền giáo của Phao-lô tại A-thên và Cô-rinh-tô? Điều gì khiến việc chia sẻ phúc âm trong các thành phố và cộng đồng của chúng ta ngày nay trở nên đầy thách thức? Làm sao chúng ta có thể chia sẻ phúc âm cách thành công tại những nơi khó khăn này? Chúng ta có thể học được những chiến lược nào từ hoạt động truyền giáo của Phao-lô để thực hiện điều đó một cách tốt nhất?

Đọc Công vụ 18:1–3, 1 Cô-rinh-tô 5:9–11 và 1 Cô-rinh-tô 8:4. Chúng ta có thể suy ra điều gì về kinh tế, đạo đức và đời sống tôn giáo tại Cô-rinh-tô?

Cô-rinh-tô là một trung tâm quan trọng của thế giới cổ đại, nổi tiếng về thương mại thịnh vượng. Thành bị La Mã phá hủy vào năm 146 TCN và được Julius Caesar xây dựng lại như một thuộc địa La Mã vào năm 44 TCN. Chính Cô-rinh-tô La Mã này xuất hiện trong Tân Ước. Vào thời Phao-lô, Cô-rinh-tô là một trong những đối thủ của A-thên và thậm chí đã vượt trội hơn A-thên về nhiều phương diện. Cô-rinh-tô có hai hải cảng quan trọng, giúp cho việc trao đổi hàng hóa và phát triển thương mại trở nên dễ dàng.

Thật vậy, Phao-lô chọn Cô-rinh-tô vì tầm quan trọng và vị trí địa lý thuận lợi của thành ấy. “Như vậy, một cơ hội đã được mở ra cho việc truyền bá phúc âm. Một khi được thiết lập tại Cô-rinh-tô, phúc âm sẽ dễ dàng được truyền đạt đến mọi nơi trên thế giới.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 99.

Ngoài ra, thương mại phồn thịnh của Cô-rinh-tô giúp Phao-lô dễ dàng tự nuôi mình bằng cách làm và bán trại trong khi rao giảng phúc âm tại thành ấy (Công vụ 18:2, 3). Rõ ràng, công việc truyền giáo trong một thành phố lớn và giàu có không hề thiếu thách thức. Cô-rinh-tô nổi bật với tình trạng đa thần giáo công khai (1 Cô-rinh-tô 8:5), thể hiện qua nhiều đền miếu được xây để tôn kính các thần như Apollo, Athena, Aphrodite, cùng nhiều thần khác, thậm chí thờ cả các thần Ai Cập như Serapis và Isis.

Bên cạnh sự hỗn loạn tôn giáo này, Cô-rinh-tô cũng nổi tiếng về sự buông thả tình dục. Strabo, một nhà địa lý và sử học Hy Lạp, đề cập rằng có 1,000 gái mại dâm “thánh” dâng mình cho việc thờ phượng Aphrodite trong đền thờ nữ thần này tại Cô-rinh-tô. Dù nhiều học giả nhìn nhận điều này với sự hoài nghi và cho rằng lời tuyên bố ấy bắt nguồn từ tuyên truyền của người A-thên chống lại Cô-rinh-tô, nhưng mại dâm mang tính nghi lễ vẫn phổ biến trong thế giới cổ đại. Sự gian dâm là một vấn đề tại Cô-rinh-tô, cũng như ở nhiều nơi khác. Thờ hình tượng và sự vô luân là một phần của đời sống hằng ngày, và thực trạng đáng buồn này giải thích phần lớn nội dung của 1 và 2 Cô-rinh-tô.

Trong hoạt động truyền giáo tại Cô-rinh-tô, Phao-lô đối diện với thách thức của một xã hội thờ hình tượng và phóng túng. Những thách thức nào trong văn hóa ngày nay có thể khiến việc rao giảng phúc âm trở nên khó khăn? Chúng ta có thể vượt qua bằng cách nào? Nếu có, giữa Cô-rinh-tô và các thành phố của chúng ta ngày nay khác biệt nhiều đến mức nào?

Đọc Công vụ 18:4–8. Kết quả của việc rao giảng của Phao-lô là gì?

Công việc của Phao-lô giữa vòng người Giu-đa tại Cô-rinh-tô không kết quả như ông mong muốn. Ông phải đối diện với sự thù nghịch và căm ghét. Kinh Thánh nói rằng “chúng chống cự và khinh dể người” (Công vụ 18:6). Khi đối tượng của động từ Hy Lạp blasphēmeō (“nói phạm thượng”) là một con người, thì từ ấy có nghĩa là “mắng nhiếc” hoặc “vu khống.” Nói cách khác, họ có ý định làm hoen ố danh tiếng của Phao-lô và ngăn cản ông thành công trong những nỗ lực truyền giáo của mình.

May thay, công việc của Phao-lô trong nhà hội Cô-rinh-tô không vô ích. Suy cho cùng, Đức Chúa Trời đang điều hành sứ mạng này. Ngài đã hứa: “[Lời Ta] chẳng trở về luống nhưng” (Ê-sai 55:11). Một số người Giu-đa không ngờ rằng Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, cùng cả nhà mình tiếp nhận Chúa Giê-su là Đấng Mê-si và chịu phép báp-tem (Công vụ 18:8). Ngoài ra, “nhiều người Cô-rinh-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp-tem” (Công vụ 18:8), rất có thể là do ảnh hưởng của Cơ-rít-bu.

Đọc Công vụ 18:9, 10. Chúng ta có thể suy ra điều gì về cảm xúc của Phao-lô trước những thách thức tại Cô-rinh-tô? Đức Chúa Trời đã khích lệ tôi tớ Ngài như thế nào?

Ngay sau khi Phao-lô rời nhà hội, ông có một kinh nghiệm đem lại sự khích lệ. Chính Đấng Christ hiện ra với ông ban đêm trong sự hiện thấy, với những lời gợi nhớ trong Ê-sai 41:10: “Đừng sợ, vì ta ở với ngươi.” Thật vậy, Phao-lô thừa nhận rằng ông ở tại Cô-rinh-tô “trong sự yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm” (1 Cô-rinh-tô 2:3). Ông đã phải rời Bê-rê để đến A-thên vì sự chống đối dữ dội. Dường như ông nghĩ rằng mình cũng sẽ phải rời Cô-rinh-tô vì cùng lý do: sự chống đối lớn lao. Nhưng lần này điều đó đã không xảy ra. Chúa Giê-su phán với ông: “Ta có nhiều người trong thành nầy” (Công vụ 18:10). Và Phao-lô là công cụ của Ngài để đem tin tức về sự cứu rỗi đến cho họ.

Đọc Ê-sai 41:10. Đức Chúa Trời ban cho bạn những lời hứa tuyệt vời nào trong câu này? Những lời hứa ấy đem lại cho bạn hy vọng nào ngay lúc này trong đời sống bạn?

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:11–13; 1 Cô-rinh-tô 4:14; 1 Cô-rinh-tô 5:11; 1 Cô-rinh-tô 7:1; và 1 Cô-rinh-tô 14:37, 40. Cũng đọc 2 Cô-rinh-tô 1:12, 2 Cô-rinh-tô 2:9, 2 Cô-rinh-tô 11:3 và 2 Cô-rinh-tô 13:10. Những câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu như thế nào về lý do Phao-lô viết thư cho người Cô-rinh-tô?

Phao-lô đang ở Ê-phê-sô khi ông viết 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 16:5–9). Người nhà của Cơ-lô-ê đến báo cho ông biết rằng tình hình tại Cô-rinh-tô không được tốt lắm (1 Cô-rinh-tô 1:11). Trong 1 Cô-rinh-tô 1–6, Phao-lô giải quyết những vấn đề do người nhà Cơ-lô-ê đem đến. Các vấn đề bao gồm bè phái, gian dâm, kiện tụng và mại dâm. Phao-lô cũng nhận được một bức thư với những câu hỏi cụ thể (1 Cô-rinh-tô 7:1). Câu trả lời của ông kéo dài từ chương 7 trở đi. Các câu hỏi liên quan đến hôn nhân, ly dị, độc thân, thức ăn cúng thần tượng, cách cư xử trong sự thờ phượng, việc sử dụng các ân tứ thuộc linh và sự hiểu sai về sự sống lại. Hội thánh Cô-rinh-tô có rất nhiều vấn đề và còn non nớt. Có lẽ hội thánh địa phương của bạn cũng có nhiều vấn đề. Tuy nhiên, hội thánh tại Cô-rinh-tô có lẽ còn tệ hơn.

Thư thứ nhất của Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô cũng rất liên quan đến thời đại chúng ta. Rốt cuộc, chẳng phải ở một mức độ nào đó, chúng ta cũng đang đối diện với một số vấn đề tương tự trong nhiều hội thánh ngày nay sao? Bức thư này có nhiều điều để nói với chúng ta. Đó là “một trong những bức thư phong phú nhất, có tính giáo huấn nhất, mạnh mẽ nhất trong tất cả các thư của ông.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 301.

Phao-lô có thể đã viết ba hoặc bốn bức thư cho người Cô-rinh-tô (so sánh với 2 Cô-rinh-tô 10:9). Ông viết một bức thư đầu tiên trước thư 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 5:9), nhưng thư ấy đã thất lạc. Trước thư 2 Cô-rinh-tô, ông viết một bức thư mà các học giả gọi là “bức thư nghiêm khắc” (2 Cô-rinh-tô 2:3, 4, 9; 2 Cô-rinh-tô 7:8), nhưng thư ấy cũng đã thất lạc. Một số người cho rằng ông đang đề cập đến thư 1 Cô-rinh-tô, hoặc bức thư ấy được lưu giữ một phần trong các thư 2 Cô-rinh-tô.

Từ 2 Cô-rinh-tô, chúng ta nhận ra rằng các tín hữu tại Cô-rinh-tô bị ảnh hưởng bởi văn hóa xung quanh. Họ coi trọng những điều như sự cạnh tranh, quyền lực và giàu có, tất cả đều là những điều cũng có thể thách thức hội thánh chúng ta ngày nay. Ngược lại, Phao-lô tìm cách tạo dựng một văn hóa đặt Đấng Christ làm trung tâm, một cách nhìn thế giới qua lăng kính của phúc âm. Thật quan trọng biết bao khi chúng ta cũng nhìn thế giới hiện tại qua lăng kính của phúc âm.

Đọc lại 2 Cô-rinh-tô 2:4. Câu này nói gì với bạn về việc Phao-lô quan tâm đến những người này nhiều như thế nào? Ngược lại, trong lòng bạn có bao nhiêu tình yêu thương dành cho người khác?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Corinth,” tr. 243–254, trong The Acts of the Apostles.

“Trong khi rao giảng phúc âm tại Cô-rinh-tô, vị sứ đồ đã theo một phương cách khác với cách ông đã thực hiện tại A-thên. . . . Ông quyết định tránh những lập luận và tranh luận cầu kỳ, và ‘chẳng biết sự gì’ giữa vòng người Cô-rinh-tô ‘ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên thập tự giá.’ ”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 244.

“Phao-lô đã có một mức độ thành công,” nhưng ông “nghi ngờ sự khôn ngoan của việc xây dựng một hội thánh từ những con người mà ông tìm thấy tại đó. Ông xem Cô-rinh-tô là một cánh đồng lao động rất đáng ngờ, và quyết định rời khỏi nơi ấy. . . .

“Khi ông đang suy nghĩ về việc rời thành ấy để đến một cánh đồng có triển vọng hơn, . . . Chúa hiện ra với ông trong sự hiện thấy ban đêm và phán: ‘Đừng sợ chi; song hãy nói, . . . vì ta có nhiều người trong thành nầy.’ Phao-lô hiểu đây là mạng lệnh phải ở lại Cô-rinh-tô, và là sự bảo đảm rằng Chúa sẽ làm cho hạt giống đã gieo được gia tăng. . . . Một hội thánh lớn đã được ghi danh dưới ngọn cờ của Đức Chúa Giê-su Christ.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 106, 107.

“Kinh Thánh ghi lại rằng Phao-lô đã làm việc một năm sáu tháng tại Cô-rinh-tô. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông không chỉ giới hạn trong thành ấy. . . . Ông đặt Cô-rinh-tô làm trụ sở chính. . . . Nhờ đó, nhiều hội thánh đã được thành lập. . . . Sự vắng mặt của Phao-lô đối với các hội thánh ông chăm sóc được bù đắp phần nào bằng những thư tín có sức ảnh hưởng lớn và đầy quyền năng, thường được tiếp nhận như lời của Đức Chúa Trời. . . . Những thư tín này được đọc trong các hội thánh.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 109.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Phao-lô tin chắc rằng ông là sứ đồ của Chúa Giê-su và sự kêu gọi này đến từ Đức Chúa Trời. Vì sao biết mình là ai và sự kêu gọi của mình là gì lại quan trọng đến vậy?
  2. Trong một khoảnh khắc, Phao-lô cảm thấy muốn từ bỏ công việc truyền giáo tại Cô-rinh-tô và rời khỏi thành. Điều gì đã khiến ông đổi ý? Điều này có thể giúp chúng ta như thế nào khi chúng ta cảm thấy muốn từ bỏ một dự án truyền giáo? Tuy nhiên, có khi nào chúng ta nên làm như vậy không?
  3. Các tín hữu hội thánh tại Cô-rinh-tô chịu ảnh hưởng đáng kể bởi văn hóa xung quanh. Đây cũng là một thực tế rõ ràng giữa chúng ta ngày nay. Làm sao chúng ta có thể ở trong thế gian (Giăng 17:11, 15) mà không bị ảnh hưởng bởi những điều “ở trong thế gian—sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời” (1 Giăng 2:16)? Còn những cách nào khác mà hội thánh chúng ta đang bị ảnh hưởng tiêu cực bởi văn hóa xung quanh?