yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7
yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7 yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7
yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7

Ánh Sáng Lẽ Thật

Khám phá
tình yêu thương
và SỰ CÔNG BÌNH của Đức Chúa Trời.

yH5BAEAAAAALAAAAAABAAEAAAIBRAA7

2026 | QUÝ 4 - ÂN TỨ TIÊN TRI

2026 Q4 L2

BÀI HỌC 2 | 3-9 Tháng 10

Sự Kêu Gọi Của Một Tiên Tri

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng thế Ký 15:6; Ga-la-ti 3:6-9; 1 Các Vua 18:19-39; Ê-sai 53; Đa-ni-ên 2:46-48; Mác 1:2-5; Ma-thi-ơ 11:1-6.

Câu Gốc: “Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi” (Ê-sai 6:8).

Từ Sáng thế Ký đến Khải huyền, Đức Chúa Trời luôn có một dân sót lại trung tín, đáp lại ân điển Ngài bằng sự vâng phục (xem Giê-rê-mi 31:7, 31- 34). Áp-ram (về sau là Áp-ra-ham) là một gương mẫu đức tin nơi giao ước. Dù sống giữa sự bội đạo và suy đồi đạo đức, ông vẫn trung tín với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời (xem Sáng thế Ký 12:1-9).

Đức Chúa Trời truyền đạt các điều khoản của giao ước cho Áp-ra-ham và bày tỏ cho ông biết sự cứu rỗi nhân loại sẽ được thực hiện qua sự hy sinh của Đấng Christ (Sáng thế Ký 15:6-17). Để thử đức tin của Áp-ra-ham và minh họa cho sự hy sinh trong tương lai của Con Đức Chúa Trời, ông được kêu gọi dâng con trai mình là Y-sác làm của lễ cho Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 22:1-17). Đây là một thử thách đau đớn tột cùng đối với Áp-ra-ham. Dù có nhiều lý do để không vâng lời, ông vẫn trung tín làm theo mệnh lệnh Đức Chúa Trời. Ngài ngăn ông giết Y-sác và cung cấp một con chiên đực làm sinh tế thay thế.

Không phải mọi tiên tri đều được Đức Chúa Trời kêu gọi để cảnh báo về tai họa sắp xảy đến. Tuy nhiên, tất cả đều được kêu gọi để đưa dân sự trở lại với lòng trung tín, và cảnh báo họ chống lại sự bội đạo, việc áp bức người nghèo khó và túng thiếu, cũng như sự vi phạm giao ước và các điều khoản của giao ước.

Quan trọng hơn hết, các tiên tri phải bày tỏ lời hứa cứu rỗi trong Đấng Mê-si. Lời chứng của các tiên tri và Thánh Linh kêu gọi chúng ta nhận biết, cảnh báo người khác về cuộc khủng hoảng sắp đến. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là tin lành cứu chuộc dành cho những người trung tín với Đức Chúa Giê-su và duy trì mối quan hệ giao ước với Ngài (Khải huyền 12:17).

Đọc Sáng thế Ký 15:6, Ga-la-ti 3:6-9 và Hê-bơ-rơ 11:8. Điều gì trong đời sống và tính cách của Áp-ra-ham khiến ông đủ tư cách phục vụ Đức Chúa Trời, mặc dù rõ ràng ông cũng là một người có những khuyết điểm?

Thời Áp-ra-ham và thời đại chúng ta có nhiều điểm tương đồng. Như ngoại giáo và sự thờ hình tượng lan tràn khi xưa, ngày nay nhiều hệ tư tưởng đang cạnh tranh trên thế giới cũng tìm cách loại bỏ hoặc đẩy Cơ Đốc giáo ra ngoài lề. Trái ngược với phần lớn nền văn hóa thịnh hành, dân sự Đức Chúa Trời ngày nay được kêu gọi phản chiếu hình ảnh Ngài một cách trung tín trong mọi tương tác hằng ngày với người khác, kể cả trong việc rao truyền sứ điệp ba thiên sứ (Khải huyền 14:6-12).

Kinh Thánh chép rằng Áp-ram “tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người” (Sáng thế Ký 15:6). Bạn thấy lời hứa của phúc âm được bày tỏ mạnh mẽ trong câu này như thế nào? Bạn có thể nhận được niềm hy vọng nào cho chính mình từ lời hứa ấy?

Đọc 1 Các Vua 18:19-39. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể thấy chức vụ tiên tri hoạt động như thế nào?

Sự kêu gọi và cách nói của Ê-li phản ánh vai trò sứ giả của Đức Chúa Trời. Để chấm dứt sự bội đạo của Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời sai Ê-li đến với vua A-háp để báo trước một cơn hạn hán kéo dài nhiều năm. Đức Chúa Trời dùng hoạn nạn này để khiến dân sự lìa bỏ hình tượng và trở lại vâng phục Ngài. Vua và dân chúng quy trách nhiệm cho tiên tri Ê-li về tai họa của họ và tìm cách giết ông.

Trên núi Cạt-mên, Ê-li đối đầu với các tiên tri Ba-anh và Át-tạt-tê. Sứ giả của Đức Chúa Trời, được đầy dẫy Thánh Linh, đã kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên đang thờ hình tượng từ bỏ các thần giả dối và trở về với Chúa. Dân chúng biết rằng những lựa chọn của họ đã dẫn cả quốc gia vào sự bội đạo. Giờ đây, họ sẵn sàng một lần nữa tiếp nhận Đức Chúa Trời của Ê-li, Đấng đã chứng tỏ Ngài vượt trội hơn các thần giả dối của họ, những thần mà trên thực tế vốn không hề có.

Ngay trước khi Đấng Christ tái lâm, Đức Chúa Trời truyền cho hội thánh Ngài một lần nữa rao truyền sứ điệp Ê-li, kêu gọi người ta lìa bỏ “các thần tượng” của mình và sẵn sàng đứng vững trong ngày lớn của Chúa. Đức Chúa Trời vẫn phán truyền với dân Ngài qua những phương tiện mà Ngài đã chọn. Lời Ngài và ân tứ tiên tri đem đến lời khuyên răn, cảnh báo, chỉ dẫn và khích lệ.

“Một cuộc phục hưng lòng tin kính chân thật giữa vòng chúng ta là nhu cầu lớn nhất và cấp bách nhất trong mọi nhu cầu. Tìm kiếm điều này phải là công việc đầu tiên của chúng ta. Cần phải có những nỗ lực hết lòng để nhận được phước lành của Chúa, không phải vì Đức Chúa Trời không sẵn lòng ban phước lành Ngài cho chúng ta, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để tiếp nhận phước lành ấy.”—Ellen G. White, Selected Messages, quyển 1, tr. 121.

Đọc Ma-la-chi 4:5, 6. Sứ điệp của Ê-li tác động như thế nào đến gia đình của những người theo Đức Chúa Trời?

Sự phục hưng chân thật bắt đầu từ tấm lòng và trong gia đình. Gia đình là nền tảng của hội thánh và là khối xây dựng không thể thiếu của cộng đồng. Sự phục hưng trong gia đình lan tỏa tình yêu thiên thượng đến hội thánh, cộng đồng và quốc gia. Đây là mục đích của Đức Chúa Trời dành cho gia đình Cơ Đốc. Sự phục hưng cũng thúc đẩy dân sự Đức Chúa Trời tham gia sứ mạng.

Ngày nay, trong gia đình, tấm lòng và hội thánh của chúng ta có những loại thần tượng nào, nếu có?

Ê-sai, một đại tiên tri của Cựu Ước, được Đức Chúa Trời trực tiếp kêu gọi vào chức vụ (Ê-sai 6:1–8). Trước sự thánh khiết và oai nghi của Ngài, Ê-sai nhận biết mình không xứng đáng. Ngay lúc ấy, một sê-ra-phim bay đến với ông, mang theo một than lửa đỏ từ bàn thờ trên trời và “làm sạch” tội lỗi ông. Sau đó Đức Chúa Trời hỏi, “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Câu trả lời của Ê-sai cũng phải là câu trả lời của chúng ta: “Có tôi đây; xin hãy sai tôi” (Ê-sai 6:8).

Sự kêu gọi Ê-sai đến vào thời điểm then chốt trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Dù có nhiều thiếu sót, ông vẫn được giao nhiệm vụ cảnh báo dân sự và các nhà lãnh đạo về tội lỗi. Lời tiên tri của ông giúp hiểu sâu sắc về Đức Chúa Trời, con người và chương trình cứu rỗi, đặc biệt là ý nghĩa sự chết của Đức Chúa Giê-su được bày tỏ rõ ràng trong Ê-sai 53.

Đọc Ê-sai 53. Làm thế nào lời tiên tri kỳ diệu này, được viết hơn nửa thiên niên kỷ trước thập tự giá, lại có thể bày tỏ cách mạnh mẽ đến thế về sự chết của Đấng Christ vì chúng ta? Lời tiên tri này dạy chúng ta điều gì về ân tứ tiên tri?

Các lời tiên tri của Ê-sai báo trước mục đích và sứ mạng của Đấng Mê-si (Ê-sai 53:3-5). Những lời ấy giải thích vì sao Đấng Christ “như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt” (Ê-sai 53:7) và sự hy sinh chuộc tội của Ngài cứu dân Ngài khỏi tội lỗi như thế nào. Sự chết thay của Đấng Christ được mô tả hết sức rõ ràng tại đây, cho thấy nền tảng của sự chuộc tội cho toàn thể nhân loại.

“Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê-sai 53:6). Bản chất phổ quát của tội lỗi được mô tả tại đây; đồng thời, bản chất phổ quát của thập tự giá, giải pháp cho tội lỗi, cũng được bày tỏ tại đây. Có lẽ hơn bất kỳ chương nào khác trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, chương này trình bày chương trình cứu rỗi bằng những lời rõ ràng, không mơ hồ.

Tuy nhiên, việc Ê-sai được kêu gọi trở thành tiên tri không hề dễ dàng. Người ta cho rằng những dự báo khủng khiếp của ông về sự hủy diệt là phi lý, cũng như ngày nay nhiều người xem thường những lời cảnh báo về hậu quả của tội lỗi (Rô-ma 6:23). Sứ điệp tiên tri của Ê-sai dành cho thời đại ông cũng như thời đại chúng ta thật rõ ràng (xem Ê-sai 2:4; Ê-sai 5:20). Sự từ chối thực thi công lý và cải cách đã dẫn đến sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem; cũng chính tội lỗi ấy sẽ dẫn đến sự hủy diệt kẻ ác khi Đấng Christ tái lâm.

Hãy xem lại Ê-sai 53 và ghi ra mọi điều Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta như được mô tả trong các câu ấy. Bạn có thể nhận được niềm hy vọng lớn lao nào cho chính mình từ những gì nhà tiên tri đã bày tỏ về kết quả sự chết của Đấng Christ dành cho chúng ta?

Đa số Cơ Đốc nhân đều biết câu chuyện Đa-ni-ên 1, là chương cho biết ông giữ vững các nguyên tắc sức khỏe từ nhỏ. Đa-ni-ên là tấm gương về lòng trung tín (Đa-ni-ên 1:8). Ông từ chối thức ăn vua ban, chỉ dùng rau và nước (Đa-ni-ên 1:12–16). Đây chỉ là thử thách nhỏ so với những thử thách lớn hơn về sau, như trong Đa-ni-ên 6, khi lòng trung tín có thể khiến ông mất mạng.

Đọc Đa-ni-ên 2:46-48; Đa-ni-ên 4:18; Đa-ni-ên 5:13, 14; và Đa-ni-ên 6:25-27. Những câu này cho chúng ta biết gì về cách Đa-ni-ên làm chứng cho những người ngoại giáo quanh ông?

Hãy xem lời chứng của những người ngoại giáo này về quyền năng của Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên. Dù mỗi câu chuyện có nét độc đáo riêng, tất cả đều bày tỏ một nguyên tắc quan trọng: qua đời sống và lòng trung tín của chúng ta, cũng như qua quyền năng Đức Chúa Trời hành động trong và qua chúng ta, người khác có thể và nên học biết về Đức Chúa Trời trên trời, và nhận biết rằng Ngài là “Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các vua.”

Chủ đề xuyên suốt các lời tiên tri của Đa-ni-ên là sự phán xét, đạt đến đỉnh điểm khi Đấng Christ tái lâm. Vì vậy, tên Đa-ni-ên, “Đức Chúa Trời là Đấng phán xét tôi,” thật thích hợp. Các lời tiên tri của ông vẫn liên quan đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta tỉnh thức và trung tín giữ các điều răn của Đức Chúa Trời ngay cả trong những việc “nhỏ nhặt” của cuộc sống.

Với tư cách là một tiên tri, Đa-ni-ên cũng báo trước sự trỗi dậy và sụp đổ của các quốc gia, cũng như hậu quả của việc họ không vâng phục Đức Chúa Trời. Qua các khải tượng tiên tri, Đa-ni-ên bày tỏ chương trình của Đức Chúa Trời và chiến thắng chung cuộc của vương quốc Ngài (Đa-ni-ên 7:13, 14).

Đa-ni-ên 2, được viết nửa thiên niên kỷ trước Đấng Christ, đã mô tả chính xác sự trỗi dậy và sụp đổ của bốn đế quốc lớn trên thế giới, thậm chí kéo dài đến thời đại chúng ta qua hình ảnh bàn chân và các ngón chân của pho tượng, rõ ràng ám chỉ các quốc gia ở châu Âu hiện đại. Như lời tiên tri dạy rất rõ, họ “lộn cùng nhau bởi giống loài người; song không dính cùng nhau, cũng như sắt không ăn với đất sét” (Đa-ni-ên 2:43).

Thật là một lời tiên tri đáng kinh ngạc về châu Âu, thậm chí cho đến ngày nay, bất chấp hôn nhân giữa các dân tộc và mọi nỗ lực thống nhất, lục địa này vẫn tồn tại dưới dạng những quốc gia riêng biệt về luật pháp, phong tục và truyền thống riêng. Chỉ vài năm trước khi Liên Xô sụp đổ, không một cơ quan tình báo nào nhìn thấy sự sụp đổ ấy đang đến; nhưng lời tiên tri của Đa-ni-ên cho chúng ta những lý do mạnh mẽ để tin cậy các tiên tri của Đức Chúa Trời.

Tất cả các vương quốc trong Đa-ni-ên 2 đều đã đến rồi qua đi đúng như lời tiên tri. Điều này cho chúng ta biết gì về việc tin cậy lời tiên tri nói rằng vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời sẽ đến tiếp theo (Đa-ni-ên 2:44)?

Đọc Mác 1:2-5. Mục đích chức vụ của Giăng Báp-tít là gì?

Phúc âm Mác cho chúng ta biết rằng sự xuất hiện của Giăng Báp-tít là sự ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai (Ê-sai 40:3). Từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành, Giăng luôn một lòng trung tín với Đức Chúa Trời. Sa-tan lo sợ sẽ mất quyền thống trị trên nhân loại khi nghe tiếng Giăng vang lên trong đồng vắng (xem Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 224). Sự gian ác của những người nghe Giăng giảng bị vạch trần theo cách khiến Sa-tan run sợ. Quyền kiểm soát của Sa-tan trên Y-sơ-ra-ên đang bị đe dọa. Hắn nhiều lần tìm cách ngăn cản Giăng Báp-tít giữ lối sống trung tín và lòng tin cậy nơi Đấng Mê-si, nhưng đều thất bại.

Đọc Ma-thi-ơ 11:1-6. Đức Chúa Giê-su đã củng cố lại đức tin của Giăng như thế nào khi người giảng đạo này đang ở trong tù?

Sa-tan không thể cám dỗ Đức Chúa Giê-su phạm tội, và sự thất bại trong đồng vắng khiến hắn nổi giận. Sau đó, hắn thay đổi chiến thuật bằng cách khiến Giăng, người anh em họ của Đức Chúa Giê-su, bị giam vào ngục. Việc Giăng bị giam cầm khiến Đức Chúa Giê-su đau lòng, dù Sa-tan không thể dụ Ngài phạm tội. Đây là cách Sa-tan tìm cách làm Giăng suy sụp, đồng thời khiến cho lòng Đấng Cứu Thế trĩu nặng vì những cảm xúc. Nhưng Giăng đã nhận được lời khích lệ từ Đức Chúa Giê-su. Bất chấp hoàn cảnh khủng khiếp và vẫn không hiểu tại sao mình còn ở trong tù khi Đức Chúa Giê-su có đầy quyền năng, Giăng vẫn trung tín cho đến chết.

Giống như các tiên tri thời xưa, chúng ta cũng được kêu gọi rao truyền sứ điệp về sự ăn năn, đức tin và sự công bình trọn vẹn của Đấng Christ (Khải huyền 14:6-12). Cũng như đã làm với Giăng Báp-tít, Sa-tan có thể dùng sự hoài nghi để khiến chúng ta nghi ngờ sứ mạng Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời mình. Chúng ta không nên nản lòng, hãy nhớ lại sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong cuộc đời chúng ta, nhất là khi mọi việc không diễn ra tốt đẹp, như trường hợp của Giăng, người bị cầm tù rồi bị giết bởi hành động của một người đàn bà gian ác và một người đàn ông nhu nhược. Dù loài người có thể làm bất cứ điều gì với chúng ta, nhưng chúng ta, bởi đức tin, vẫn có thể hướng về Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ đáp lời. Ngài đã hứa ban quyền năng để chúng ta thực hiện ý muốn Ngài (Công vụ 1:8). Trong một thế giới hậu Cơ Đốc giáo và không theo Cơ Đốc giáo, điều cấp thiết là chúng ta phải là những nhân chứng trung tín cho Đấng Christ, bất kể hoàn cảnh mình ra sao.

Bạn đã bao giờ ở trong hoàn cảnh giống như Giăng khi ở trong tù, không thể hiểu nổi vì sao những điều tồi tệ như thế lại xảy đến với mình chưa? Bạn đã duy trì đức tin và lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời như thế nào?

Được Kêu Gọi Vào Chức Vụ Tiên Tri

Đức Chúa Trời kêu gọi các tiên tri vào những thời điểm cụ thể vì những mục đích đặc biệt. Họ hiện diện để truyền đạt những sứ điệp cần thiết cho thời đại ấy. Trong bối cảnh này, tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm tin rằng Ellen G. White là một người như vậy, người đã bày tỏ ân tứ tiên tri trong thời hiện đại và thực hiện chức vụ tương tự như một tiên tri ngoài Kinh điển (các bài học sắp tới sẽ nói thêm về điều này). Ellen Harmon (White) nhận sự kêu gọi đầu tiên vào tháng 12 năm 1844, vài tuần sau khi các tín hữu Cơ Đốc theo Miller đã mong đợi Đức Chúa Giê-su trở lại dựa trên Đa-ni-ên 8:14: “Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.”

Dù William Miller không bao giờ ấn định một ngày chính xác, nhưng những người theo ông cuối cùng đã xác định ngày 22 tháng 10 năm 1844 là ngày Đấng Christ tái lâm, dựa trên cách tính thời gian Kinh Thánh liên quan đến Ngày Đại Lễ Chuộc Tội. Niềm tin này tạo nên sự mong đợi lớn lao trong hàng ngàn người ở Bắc Mỹ và những khu vực khác trên thế giới. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được đoàn tụ với Đấng Cứu Thế trên thiên đàng. Khi ngày tái lâm được mong đợi đến gần, Miller cũng tràn đầy phấn khởi và nhiệt thành.

Nhưng Đấng Christ đã không xuất hiện, và các tín hữu theo Miller trải qua một trong những biến cố lịch sử đau đớn nhất, Sự Thất Vọng Lớn.

Đó là bối cảnh Đức Chúa Trời ban cho Ellen Harmon (White) khải tượng đầu tiên. Sứ điệp chính của khải tượng là khích lệ cả bà lẫn những tín hữu thất vọng rằng Đức Chúa Trời vẫn ở cùng họ, bất chấp cách giải thích sai lầm của họ. Khải tượng chỉ ra một con đường dẫn từ thế giới này đến Giê-ru-sa-lem trên trời. Trên con đường ấy là các tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm đang đi về Thành Thánh. Và “nếu họ cứ hướng mắt vào Đức Chúa Giê-su, Đấng ở ngay trước họ, dẫn họ đến thành, thì họ được an toàn.”—Ellen G. White, Spiritual Gifts, quyển 2, tr. 31.

Khải tượng này là một tin mừng. Đức Chúa Trời đang bắt đầu hình thành một phong trào mới từ sự hỗn loạn của nỗi thất vọng. Đức Chúa Giê-su vẫn ở cùng họ. Ngài vẫn sẽ trở lại. Ngài vẫn đang dẫn dắt họ trên con đường cứu rỗi. Họ chỉ cần hướng mắt mình “chăm chú vào” Ngài. Họ có những lý do vững chắc để không từ bỏ hy vọng, ngay cả giữa quá nhiều biến động và thất vọng.

Như vậy, Ellen G. Harmon (White), một thiếu nữ 17 tuổi, được kêu gọi vào chức vụ tiên tri. Con đường của bà không dễ dàng, nhất là trong buổi đầu.

Dù ân tứ này dần dần được chấp nhận là chân thật, Ellen G. White vẫn e sợ việc trở thành sứ giả của Đức Chúa Trời. Làm tiên tri của Đức Chúa Trời chưa bao giờ là một công việc dễ dàng hay được trọng vọng. Vậy bà sẽ đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời như thế nào?

Tuần tới, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn công việc đặc biệt và những thách thức mà các tiên tri Cựu Ước phải đối diện; một số điều trong đó cũng được phản ánh trong đời sống và chức vụ của Ellen G. White, như chúng ta sẽ học vào thứ Sáu tới.

BÀI HỌC 1 | 26 Tháng 9 – 2 Tháng 10

Đấng Tạo Hóa Phán Dạy

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng thế Ký 1:27, 28; Sáng thế Ký 3:1– 8; Lu-ca 15:11–32; Sáng thế Ký 3:14–24; Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16–22; Giăng 10:27–30.

Câu Gốc: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian” (Hê-bơ-rơ 1:1, 2).

Sáng thế Ký 1 và 2 kể lại câu chuyện Sáng tạo. Đức Chúa Trời dựng nên một thế giới xinh đẹp, rồi đặt A-đam và Ê-va vào đó như tuyệt tác của công cuộc Sáng tạo. Loài người khác với mọi tạo vật khác trên đất vì họ được dựng nên “theo hình Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 1:27), đây là đặc điểm chỉ dùng khi nói về con người, chứ không phải về các loài chim hay những loài động vật khác. Vì vậy, họ được sống một đời sống sung mãn toàn diện, trải nghiệm tình yêu dưới mọi hình thức và bước đi trong mối tương giao với chính Đức Chúa Trời.

Sáng thế Ký 2:18–23 cũng cho biết Đức Chúa Trời dựng nên Ê-va cho A-đam vì Ngài phán, “Loài người ở một mình thì không tốt” (Sáng thế Ký 2:18). Như vậy, ngay từ ban đầu, con người đã được dựng nên như những hữu thể có tính xã hội. Các nhà xã hội học ngày nay cho biết sự tương tác giữa người với người đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, còn sự cô đơn có thể gây chết người.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Ê-va vừa được dựng nên, A-đam thốt lên, “Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có” (Sáng thế Ký 2:23). Cơ cấu gia đình được thiết lập bởi một người nam và một người nữ kết hiệp trong hôn nhân là định chế xã hội đầu tiên Đức Chúa Trời ban cho con người, để họ kinh nghiệm mối quan hệ và sự tương giao toàn diện. Không lạ gì khi một trong những mục tiêu chính của Sa-tan là luôn phá hủy nền tảng thiết yếu của gia đình nguyên thủy.

Đọc Sáng thế Ký 1:27, 28; Sáng thế Ký 2:15–17; và Sáng thế Ký 3:9. Trong vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời và con người đã có mối tương giao như thế nào?

A-đam và Ê-va vui hưởng mối tương giao mặt đối mặt với Đức Chúa Trời. Là những hữu thể có trí tuệ, họ có thể gặp gỡ Đức Chúa Trời và lắng nghe lời chỉ dẫn của Ngài. Với tư cách quản gia khu vườn tuyệt đẹp của Đức Chúa Trời, họ ngày càng hiểu biết và khéo léo khi chăm sóc muôn loài thực vật và động vật. Mỗi ngày, họ cũng có thời gian đặc biệt với Đức Chúa Trời “lối chiều” (Sáng thế Ký 3:8). Đặc biệt, ngày Sa-bát, một phần thiết yếu trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời, được dành riêng làm thời gian tương giao giữa Đức Chúa Trời và con cái Ngài (Sáng thế Ký 2:2, 3; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11). Trong ngày ấy, tổ phụ đầu tiên của chúng ta kinh nghiệm tình yêu và sự chăm sóc của Đức Chúa Trời theo một cách đặc biệt.

Ngày nay, cách Ê-đen hàng ngàn năm, chúng ta thật khó hình dung đời sống trước khi tội lỗi xuất hiện. Tuy vậy, ngay cả bây giờ, thế giới tự nhiên hướng chúng ta trở lại công cuộc sáng tạo nguyên thủy của Đức Chúa Trời như thế nào?

Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương (1 Giăng 4:8), Ngài không dựng nên những “người máy.” Tình yêu bao hàm sự lựa chọn. Để có thể yêu thương, A-đam và Ê-va phải được dựng nên với ý chí tự do; nếu không, họ không thể trao tặng tình yêu đích thực.

Do đó, A-đam và Ê-va có quyền tự do vâng lời hoặc không vâng lời Đấng Tạo Hóa. Thực tế của quyền tự do chọn lựa này được thể hiện qua mệnh lệnh cấm ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác (xem Sáng thế Ký 2:15–17). Đức Chúa Trời cảnh báo họ đừng ăn trái ấy, chứng tỏ rằng ngay từ đầu họ đã có quyền tự do lựa chọn.

“Tổ phụ đầu tiên của chúng ta, mặc dù được dựng nên là vô tội và thánh khiết, nhưng vẫn không vượt ra ngoài khả năng làm điều sai. Đức Chúa Trời dựng nên họ như những con người tự do nhưng có đạo đức, có khả năng hiểu rõ sự khôn ngoan và nhân từ của bản tính Ngài cùng sự công bình của những yêu cầu Ngài, và hoàn toàn tự do vâng phục hay từ chối vâng phục. Họ được vui hưởng mối tương giao với Đức Chúa Trời và các thiên sứ thánh. . . . Nếu không có quyền tự do lựa chọn, thì sự vâng phục của con người sẽ không phải là tự nguyện mà là bị cưỡng ép.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 48, 49.

Tại sao A-đam và Ê-va tìm cách trốn tránh Đấng Tạo Hóa sau khi họ không vâng lời Ngài? Xem Sáng thế Ký 3:1–8 (so sánh với Giê-rê-mi 23:24 và Hê-bơ-rơ 4:13).

Sáng thế Ký 3 mô tả một cảnh tượng khủng khiếp: sự sa ngã của A-đam và Ê-va. Sau cuộc đối thoại đầy hệ trọng giữa con rắn (Sa-tan) và Ê-va, tổ phụ đầu tiên của chúng ta bị cám dỗ ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác, là điều họ bị cấm. Sa-tan dùng sức mạnh của lời nói, cảm xúc và những điều quyến rũ để thuyết phục Ê-va; rồi bà thuyết phục A-đam làm trái mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Ê-va thấy trái cây ấy “bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn” (Sáng thế Ký 3:6). Lời hứa của Sa-tan rằng họ sẽ “như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” (Sáng thế Ký 3:5) nghe thật khó cưỡng lại.

Thật ra, lời lẽ của Sa-tan đầy dẫy sự sai lạc. Hắn giấu họ hậu quả của sự bất tuân. Sau khi không vâng lời Đức Chúa Trời, mắt họ lập tức “mở ra,” và họ nhận biết mình “lõa lồ.” “Chiếc áo” bằng ánh sáng và vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi thiên 104:1, 2), vốn phản chiếu “hình ảnh” thiên thượng, đã biến mất. Họ không còn được che phủ bởi điều Đức Chúa Trời đã ban cho. Vì thế, không lạ gì khi A-đam và Ê-va trốn tránh Đấng Tạo Hóa (như thể thật sự có thể trốn khỏi Đức Chúa Trời). Họ tìm cách ẩn mình vì tội lỗi khiến chúng ta cảm thấy có lỗi, và trong mặc cảm ấy, chúng ta muốn chạy trốn khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Bạn đã từng trải nghiệm cảm giác xấu hổ và tìm cách trốn khỏi Đức Chúa Trời sau khi phạm tội như thế nào?

Sáng thế Ký 3:9, 10 cho thấy Đức Chúa Trời chủ động tìm kiếm những đứa con sa ngã của Ngài. Câu hỏi “Ngươi ở đâu?” là một câu hỏi tu từ, vì Đức Chúa Trời biết A-đam và Ê-va đã làm gì và đang ở đâu. Tuy nhiên, tội lỗi đã cắt đứt sự giao tiếp quen thuộc giữa Ngài và đôi vợ chồng đầu tiên. Mối quan tâm trước tiên của Đức Chúa Trời là khôi phục sự giao tiếp với con cái Ngài, gặp gỡ họ và ban hy vọng giữa nỗi tuyệt vọng. Thật vậy, động từ qara’ trong tiếng Hê-bơ-rơ, nghĩa là “gọi,” trong Sáng thế Ký 3:9 thường được dùng để mô tả lời Đức Chúa Trời kêu gọi nhằm thiết lập sự giao tiếp với dân Ngài.

Đọc Lu-ca 15:11–32. Ví dụ này phản chiếu những gì đã xảy ra trong Sáng thế Ký 3:9, 10 như thế nào?

Việc Đức Chúa Trời tìm kiếm A-đam và Ê-va bày tỏ tình yêu vô điều kiện của Ngài dành cho con cái Ngài. Đức Chúa Trời không bao giờ từ bỏ chúng ta (xem Lu-ca 15). Ngài làm mọi cách để tái lập mối tương giao với chúng ta, ngay cả khi chúng ta lẩn trốn. Trước khi Chúa Giê-su chịu đóng đinh, khi Phi-e-rơ ba lần chối Ngài, Đấng Christ “xây mặt lại ngó” ông (Lu-ca 22:61). Không cần lời nói, Ngài vẫn “phán” với Phi-e-rơ và tìm cách chạm đến người bạn đang lầm lạc.

Hãy chú ý trong Sáng thế Ký 3:11–13, tội lỗi đã đột ngột thay đổi mối quan hệ giữa A-đam và Ê-va như thế nào. Thay vì xưng nhận tội lỗi của mỗi người, họ bắt đầu đổ lỗi cho người khác. A-đam đổ lỗi cho Ê-va và gián tiếp đổ lỗi cho Đức Chúa Trời vì Ngài đã ban Ê-va cho ông. Ông nói, “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi” (Sáng thế Ký 3:12). Trong khi ấy, Ê-va đổ lỗi cho con rắn về sự bất tuân của mình. Bà biện minh, “Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi” (Sáng thế Ký 3:13). Ít nhất khi lần đầu bị chất vấn về tội lỗi, không ai chịu nhận trách nhiệm về lỗi của mình. Sau sáu ngàn năm, thật sự con người cũng chẳng thay đổi bao nhiêu!

Thực tế là tội lỗi đã ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Trong Rô-ma 7:15–24, sứ đồ Phao-lô mô tả rất đúng tình trạng của chúng ta khi trình bày nỗi tuyệt vọng vì muốn làm điều đúng nhưng rồi lại thấy mình làm điều ngược lại: “Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét” (Rô-ma 7:15).

Ai trong chúng ta lại không đồng cảm với điều ấy?

Điều Phao-lô nói thật sâu sắc. Tất cả chúng ta đều là những con người bất toàn, cứ làm những điều mình biết không nên làm. Ai chưa từng kinh nghiệm thực tế này?

Phao-lô nói rằng hy vọng duy nhất của chúng ta là được giải cứu “nhờ Đức Chúa Giê-su Christ, là Chúa chúng ta” (Rô-ma 7:25). Vì vậy, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tìm kiếm chúng ta để dẫn chúng ta đến với Chúa Giê-su, Đấng duy nhất có thể nắn đúc chúng ta theo hình ảnh Ngài và cứu chúng ta khỏi sự tàn phá do tội lỗi gây nên.

Một trong những hậu quả tàn khốc nhất của tội lỗi A-đam và Ê-va là sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời. Họ bị đuổi khỏi vườn và không còn có thể trò chuyện mặt đối mặt với Đức Chúa Trời nữa. Tiên tri Ê-sai đã viết những lời đầy ấn tượng về tình cảnh đau khổ này của con người: “Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi” (Ê-sai 59:2).

Thật ra, A-đam và Ê-va vẫn là con cái Đức Chúa Trời. Nhưng vì không thể tránh khỏi hậu quả của tội lỗi, họ phải rời khỏi Ê-đen. Sau sự bất tuân của họ, mọi sự không còn như trước nữa.

Tội lỗi đã thay đổi nhân loại theo nhiều cách (xem Sáng thế Ký 3:14–24). Nhưng tội lỗi đã đặc biệt thay đổi sự tương giao giữa chúng ta với Đức Chúa Trời như thế nào? (Xem thêm Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16–22.)

Tội lỗi đã hoàn toàn thay đổi đời sống con người theo những cách chúng ta không thể tưởng tượng được, vì tất cả những gì chúng ta biết chỉ là một thế giới tội lỗi. Vì tội lỗi, đất bị “rủa sả” và sinh ra “chông gai và cây tật lê.” Con người từ nay phải chịu đau đớn và phải “đổ mồ hôi” mới có thức ăn, rồi cuối cùng chết và trở về bụi đất. Trong mọi điều nhắc nhở về tội lỗi, sự chết vẫn là điều mạnh mẽ nhất. Đồng thời, vì tội lỗi, chúng ta cũng đánh mất mối tương giao trực tiếp với Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên, A-đam và Ê-va được hứa ban một giải pháp để chống lại sự tàn phá của tội lỗi. Dù không còn được trực tiếp nhìn thấy và trò chuyện với Đức Chúa Trời, tổ phụ đầu tiên của chúng ta rời Ê-đen với niềm hy vọng cho hiện tại lẫn tương lai. Đức Chúa Trời đã chủ động giải thích cho họ kế hoạch giải cứu của Ngài.

Sáng thế Ký 3:15, được gọi là “lời hứa phúc âm đầu tiên,” tràn đầy hy vọng cho họ (và cho chúng ta), bất chấp những gì đã xảy ra. Lời hứa về Đấng Cứu Chuộc sẽ đến đem lại sự đối nghịch với tội lỗi trong hiện tại và hy vọng về sự cứu rỗi nhân loại trong tương lai. Thật vậy, trước khi A-đam và Ê-va rời vườn, việc Đức Chúa Trời mặc áo cho họ là một hành động tượng trưng, mô tả sự cứu chuộc trong tương lai. Qua sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su sau này, mối tương giao với Đức Chúa Trời sẽ được khôi phục (Giăng 14:1–3).

Như vậy, ngay tại Ê-đen, ngay sau khi tội lỗi bước vào, nhân loại đã được ban cho niềm hy vọng với lời hứa rằng vấn đề tội lỗi cuối cùng sẽ được giải quyết. Vừa khi tội lỗi xuất hiện thì lời hứa về một Đấng Cứu Thế cũng được ban ra.

Bạn cảm thấy thế nào sau khi làm một điều sai trái? Có lỗi? Xấu hổ? Ghê tởm chính mình? Hậu quả là gì? Niềm tin nơi Đức Chúa Trời và sự trông cậy vào lời hứa của phúc âm đã giúp đức tin của bạn vững vàng như thế nào?

Các câu Kinh Thánh sau bày tỏ điều gì về cách Đức Chúa Trời đã phán với nhân loại sau khi tội lỗi xuất hiện? (Đọc Hê-bơ-rơ 1:1, 2; Rô-ma 1:19, 20; Dân số Ký 12:6; 2 Ti-mô-thê 3:16, 17; Giăng 14:7–9; Giăng 10:27–30.)

Bất chấp tội lỗi, Đức Chúa Trời tìm ra nhiều cách để giao tiếp với con người sa ngã. Một cách Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho chúng ta là qua công cuộc sáng tạo. Thiên nhiên là sự mặc khải mạnh mẽ về những công việc phi thường của Ngài. Các nhà khoa học kinh ngạc trước những điều kỳ diệu của vũ trụ và sự phức tạp ngay trong sự sống được xem là “đơn giản nhất.” Tuy nhiên, thiên nhiên cũng bày tỏ hậu quả của sự Sa ngã, trong đó sự chết của mọi sinh vật là hình ảnh mạnh mẽ nhất.

Một cách khác Đức Chúa Trời đã giao tiếp với nhân loại là qua các tiên tri, là những người Ngài chọn làm phát ngôn viên của mình. Chẳng hạn, Đức Chúa Trời đã phán với Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi-se và Đa-ni-ên, bày tỏ ý muốn Ngài dành cho dân sự. Về cốt lõi, các sứ điệp tiên tri của Đức Chúa Trời nhắc nhở rằng Ngài không quên con cái Ngài và vẫn ở cùng họ. Dù một số tiên tri viết những điều được lưu truyền cho chúng ta trong Kinh Thánh, nhưng có những tiên tri không viết bất kỳ sách nào qua Kinh Thánh.

Tuy nhiên, nhiều lời của các tiên tri được truyền đạt qua Kinh Thánh (2 Ti-mô-thê 3:16, 17). Kinh Thánh là sự mặc khải về chính Đức Chúa Trời. Qua lời Ngài, chúng ta học biết Ngài là ai, nhận biết tình yêu bất di bất dịch của Ngài và nhận được sự hướng dẫn của Ngài để biết mình phải sống như thế nào.

Ngoài ra, qua Kinh Thánh, chúng ta hiểu mình là ai, từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Kinh Thánh cho chúng ta thấy mục đích Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời mình.

Nhưng cách trọn vẹn nhất Đức Chúa Trời phán với chúng ta là qua Chúa Giê-su Christ, là Đấng được bày tỏ cho chúng ta trong Kinh Thánh. Như Đức Chúa Trời đã tìm kiếm A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen, Đấng Christ đã đến “tìm và cứu kẻ bị mất” (Lu-ca 19:10). Chúa Giê-su tuyên bố, “Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). Qua đời sống, sự chết và sự phục sinh của Ngài, Đấng Christ làm trọn lời hứa đã ban cho A-đam và Ê-va trong Ê-đen. Ngài đã đến và chết thay cho chúng ta hầu cho chúng ta có được sự sống đời đời.

Sau khi Chúa Giê-su thăng thiên, Đức Thánh Linh tiếp tục dẫn dắt chúng ta “vào mọi lẽ thật” và phán cho chúng ta “những sự sẽ đến” (Giăng 16:13).

Khi biết rằng Chúa Giê-su—tình yêu, bản tính và sự hy sinh của Ngài—bày tỏ cho chúng ta biết lẽ thật về Đức Chúa Cha, thì bạn được an ủi nhiều như thế nào?

Ellen G. White

Sự tương giao của Đức Chúa Trời không chỉ giới hạn trong thời Kinh Thánh. Như chúng ta sẽ thấy trong những tuần tới, Đức Chúa Trời tiếp tục phán với con người qua các thời đại, và lời Ngài sẽ được bày tỏ theo những cách hiện đại cho đến khi Đấng Christ trở lại.

Ellen Gould Harmon (White) và người chị em sinh đôi Elizabeth chào đời ngày 26 tháng 11 năm 1827 tại Gorham, tiểu bang Maine. Họ là hai người con út trong tám người con của Robert và Eunice Harmon. Vài năm sau, gia đình chuyển đến thành phố Portland, Maine, nơi Robert Harmon hy vọng mở rộng nghề làm mũ của mình. Khi lên chín tuổi, Ellen bị một chấn thương ảnh hưởng đến thể chất, cảm xúc và đời sống xã hội của cô. Trong lúc cô ở công viên gần nhà, một bạn học đang lúc tức giận ném một hòn đá trúng mặt, khiến Ellen rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê trong vài tuần. Tai nạn này đột ngột chấm dứt việc học của cô và để lại những vấn đề sức khỏe suốt đời cô. Những vết thương trên mặt cũng khiến Ellen mặc cảm về ngoại hình, hạn chế sự giao tiếp ngoài xã hội của cô.

Chính trong hoàn cảnh vô vọng ấy, cô gái trẻ Ellen Harmon bắt đầu suy nghĩ về số phận thuộc linh của mình. Cô sợ Đức Chúa Trời và cảm thấy mình không xứng đáng với thiên đàng. Những cảm giác sợ hãi ấy càng gia tăng khi gia đình Harmon tiếp nhận giáo lý của phong trào Miller về sự tái lâm gần kề của Chúa Giê-su. Ngay cả sau khi chịu phép báp-têm bằng cách dìm mình trong Giáo hội Giám Lý năm 1842, Ellen vẫn không cảm thấy mình xứng đáng với tình yêu của Đức Chúa Trời. Cô tin rằng mình “đã hư mất đời đời” (Life Sketches of Ellen G. White, tr. 29; cũng xem tr. 20–31).

Giữa những suy nghĩ day dứt ấy, cô gái trẻ Ellen có hai giấc mơ bắt đầu thay đổi cách cô nghĩ về Đức Chúa Trời. Nhưng mãi đến khi gặp Levi Stockman, một mục sư Giám Lý, bà mới hiểu và cảm nhận được tình yêu cùng ân điển của Đức Chúa Trời. Dường như Đức Chúa Trời đã phán với bà giữa nỗi tuyệt vọng. Và sau này bà viết:

“Giờ đây đức tin chiếm hữu lòng tôi. Tôi cảm nhận một tình yêu không sao diễn tả được dành cho Đức Chúa Trời và có lời chứng của Thánh Linh Ngài rằng tội lỗi tôi đã được tha. Quan niệm của tôi về Đức Chúa Cha đã thay đổi. Giờ đây tôi nhìn xem Ngài như một người Cha nhân từ và dịu dàng, thay vì một bạo chúa nghiêm khắc buộc con người phải vâng phục cách mù quáng. Lòng tôi hướng về Ngài với tình yêu sâu sắc và tha thiết.”— Life Sketches of Ellen G. White, tr. 39.

Đồng thời, Ellen White cũng hiểu giáo lý về “tình trạng của người chết” và dần nắm bắt lẽ thật rằng không có địa ngục cháy đời đời. Sự hiểu biết mới về Đức Chúa Trời và tình yêu Ngài đã hoàn toàn thay đổi thái độ của cô. Như chúng ta sẽ học vào mỗi thứ Sáu trong những tuần tới, Ellen White đã yêu Chúa Giê-su cách sâu đậm và phục vụ Ngài suốt phần đời còn lại.