Quý 1 - 2025

Ánh Sáng Lẽ Thật

Khám phá
tình yêu thương
và SỰ CÔNG BÌNH của Đức Chúa Trời.

2026 - Q1 | Kết Hợp Trời Và Đất

Tên miền mới anhsanglethat.org

Bài Học 10, 28 Tháng 2 – 6 Tháng 3 

Trọn Vẹn Trong Đấng Christ

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 10:1–13; Ma-thi-ơ 2:15; Giô-suê 1:1–3; Công vụ 3:22–26; Hê-bơ-rơ 3:7- 4:11; 2 Cô-rinh-tô 10:3–5.

Câu Gốc: ‘“Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ”’ (Cô-lô-se 2:16, 17).

Gióp hỏi, “Còn sự khôn ngoan tìm được ở đâu? Tại nơi nào có sự thông sáng?” (Gióp 28:12). Phao-lô trả lời: trong Đấng Christ, “trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng.” (Cô-lô-se 2:3; so sánh 1 Cô- rinh-tô 1:30). Nếu chúng ta có Đấng Christ, chúng ta có mọi thứ, ngay cả “sự thông biết đầy dẫy chắc chắn” mục đích của cuộc sống (Cô-lô-se 2:20). Qua Ngài, sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, bao gồm toàn bộ kế hoạch cứu rỗi, đã được bày tỏ.

Đọc Cô-lô-se 2:1–7. Mục đích của Phao-lô khi viết thư này là gì?

Trong Cô-lô-se 2:2, mong muốn của Phao-lô không chỉ là giúp các tín đồ ở Cô-lô-se nhận ra những lời dạy sai lầm mà còn là để kết hiệp họ trong tình yêu thương của Đấng Christ. Cách dùng chữ và hành văn ông dùng đây cho thấy sự tin tưởng của Phao-lô rằng bức thư này sẽ đạt được mục đích đã định.

Tuy nhiên, ông đã khen ngợi họ vì “trong anh em có thứ tự hẳn hoi và đức tin vững vàng đến Đấng Christ” (Cô-lô-se 2:5). Phao-lô dùng từ “thứ tự” trong câu này, là cùng một thuật ngữ trong Hy ngữ “taxis,” được sử dụng trong Tân Ước để chỉ các chức tế lễ của A-rôn (Lu-ca 1:8, Hê-bơ-rơ 7:11) và Mên-chi-xê-đéc (Hê-bơ-rơ 5:6, 10; Hê-bơ-rơ 6:20; Hê-bơ-rơ 7:11, 17), và Phao-lô cũng áp dụng nó cho trật tự trong hội thánh (1 Cô-rinh-tô 14:40). Các giáo sư Kinh Thánh, đôi khi, xem trật tự và tổ chức hội thánh chỉ là một thể chế tôn giáo không có ý nghĩa thần học.

Nhưng bằng cách quy định nghi thức thích hợp trong việc thờ phượng (thí dụ 1 Cô-rinh-tô 11), và chỉ rõ cách chọn trưởng lão và chấp sự (1 Ti-mô- thê 3, Tít 1), Phao-lô đã rất cẩn thận để duy trì trật tự trong hội thánh. Thông qua các biện pháp này, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và những lời dạy của Kinh Thánh được bảo tồn và ban hành.

Nhờ sự dạy dỗ đúng đắn mà người Cô-lô-se đã nhận được từ những người cộng sự của Phao-lô, họ có được “sự kiên định” của đức tin. Đức tin này không thể bị lung lay vì nó dựa trên nền tảng Kinh Thánh vững chắc, nếu tuân thủ, sẽ giúp bảo vệ họ khỏi những sai lầm do các giáo sư giả đưa ra.

Kinh nghiệm của bạn về nhu cầu “trật tự” trong đời sống tâm linh của chính bạn là gì?

Chủ đề của Cô-lô-se là một trong những châm ngôn rõ ràng nhất để sống đời sống Cơ Đốc: “Anh em đã nhận Đức Chúa Jêsus Christ thể nào, thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy” (Cô-lô-se 2:6). Chúng ta nhận được sự cứu rỗi bằng cách tiếp nhận một Ngôi Vị, không chỉ là một hệ thống giáo điều. Nhưng tiếp nhận Đức Chúa Jêsus cũng bao gồm việc chấp nhận tất cả các giáo lý của Ngài, là sự dạy dỗ được ban cho qua các sứ đồ và các tiên tri trong Kinh Thánh (xem Ê-phê-sô 2:20).

Hơn bất cứ điều gì khác, chấp nhận Đấng Christ có nghĩa là chết đi bản ngã, hoàn toàn đầu phục bản ngã cho Đấng Christ hằng sống.

Lời Hằng Sống (Đức Chúa Giê-su) không thể tách rời khỏi Lời Đã Chép (Kinh Thánh). Cả hai là hai mặt của cùng một đồng tiền. Thực ra, chỉ qua Kinh Thánh, chúng ta mới có thể biết Đức Chúa Giê-su. Chúng ta “bước đi” hoặc sống đời sống của mình “trong Ngài,” nghĩa là chúng ta để Lời Ngài và Thánh Linh Ngài hướng dẫn chúng ta trong mọi quyết định và việc làm của mình.

Trong Cô-lô-se 2:7, Phao-lô sử dụng một phép ẩn dụ thường được dùng trong Kinh Thánh, là ví Cơ Đốc nhân như cây trồng. Chúng ta trở nên châm rễ trong Đấng Christ bằng cách chấp nhận Ngài là Cứu Chúa của mình, và sắp xếp cuộc sống của chúng ta theo Lời Ngài. Đó là cách chúng ta trở nên “vững vàng trong đức tin”.

Những câu Kinh Thánh sau đây làm sáng tỏ ẩn dụ về thực vật như một biểu tượng của những người tin Chúa như thế nào? (Xem Ê-sai 61:3, Mathi-ơ 3:10, Lu-ca 8:11–15, 1 Cô-rinh-tô 3:6.)

Phao-lô vạch rõ hai sự lựa chọn mà các tín đồ có thể có. Một là tiếp tục là “cây Chúa đã trồng” (Ê-sai 61:3) và tiếp tục trọn vẹn trong Đấng Christ bằng cách nắm giữ Ngài và những lời dạy của Ngài. Sự lựa chọn kia có thể được ví như một cây nhân tạo trông có vẻ thật nhưng thực ra là không có sự sống. Bằng cách tiếp nhận các triết lý và truyền thống của con người, chúng ta bị “bắt làm tù binh” (Cô-lô-se 2:8). Mặc dù Đấng Christ đã giải thoát chúng ta, nhưng chúng ta vẫn có thể bị bắt làm nô lệ một lần nữa với ách nô lệ (Ga-lati 5:1; so sánh Công vụ 15:10).

Tóm lại, chấp nhận những lời dạy không theo Kinh Thánh có nghĩa là từ chối Đấng Christ vì những người tin vào những lời dạy sai lầm, thật không may, đã chấp nhận một phúc âm khác và đã chấp nhận thẩm quyền của con người hơn thẩm quyền của Kinh Thánh (xem Ga-la-ti 1:6–9). Đây là một mối nguy hiểm trong hội thánh đầu tiên và vẫn như vậy cho đến ngày nay.

Trong kinh nghiệm cá nhân của bạn, phải chết bản ngã mình đi hầu có thể tiếp nhận Đấng Christ là nghĩa gì ? Tại sao điều đó phải là một quá trình liên tục?

Đọc Cô-lô-se 2:11–15. Phao-lô dường như đang đấu tranh với những vấn đề nào ở đây?

Chúng ta đã bao nhiêu lần thấy những câu Kinh Thánh này, đặc biệt là Cô-lô-se 2:14, bị sử dụng sai mục đích như một lập luận chống lại ngày Sabát thứ bảy?

Để giúp hiểu những câu Kinh Thánh này, hai cách giải thích chính đã được giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm đưa ra : Thứ nhất, “chữ viết tay” đóng đinh trên thập tự giá là danh sách các cáo buộc “chống lại chúng ta,” tương tự như chữ viết mà Phi-lát treo trên thập tự giá của Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 27:37; Giăng 19:19, 20). Hoặc thứ hai, luật nghi lễ do Môi-se viết ra (xem Phục truyền 31:24–26) đã bị đóng đinh trên thập tự giá.

Khi chúng ta xem xét câu thư này trong bối cảnh rộng hơn, chúng ta có thể thấy rõ ràng nó đang nói về luật nghi lễ.

Phao-lô cũng nhắc đến “phép cắt bì không phải bởi tay người ta” (Cô- lô-se 2:11), nghĩa là “trong lòng” (Rô-ma 2:28, 29; so sánh Phục truyền Luật lệ Ký 30:16), rõ ràng là trái ngược với phép cắt bì xác thịt, vốn là một trong những điều khoản quan trọng nhất của luật nghi lễ (Lê-vi Ký 12:3; so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48).

Sau đó, Phao-lô kết nối sự thay đổi bên trong này với “lột bỏ thân thể tội lỗi của xác thịt” và với phép báp-têm bằng cách dìm mình xuống nước. Với phép báp-têm này, chúng ta đồng chết và đồng sống lại với Đấng Christ (Cô-lô-se 2:11, 12).

Kinh nghiệm cải đạo này sau đó được ví như việc “chết trong tội lỗi” và “được sống lại” với Đấng Christ, Đấng “tha thứ mọi tội lỗi chúng ta” (Cô-lô- se 2:13).

Từ “các khế ước và điều khoản” (Cô-lô-se 2:14) ám chỉ các sắc lệnh pháp lý, dù là thế tục (Lu-ca 2:1, Công vụ 17:7) hay tôn giáo (Công vụ 16:4). Từ này của Hy ngữ chỉ xuất hiện hai lần trong toàn các thư của Phao-lô để ám chỉ luật nghi lễ đã tạo nên bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân ngoại (Ê-phê-sô 2:14, 15).

Bởi vì Phao-lô đã nhắc đến sự tha thứ tội lỗi và sự thay đổi bên trong được tượng trưng bằng phép báp-têm, nên không có lý gì ông cần nhắc lại chủ đề đó một lần nữa với một phép ẩn dụ khác không được sử dụng ở bất kỳ nơi nào khác trong Kinh Thánh. Thay vào đó, Phao-lô dường như đang nhấn mạnh một điểm tương tự như đã nêu trong Ê-phê-sô: rằng những tín đồ Ngoại bang ở Cô-lô-se không cần phải lo lắng về việc tuân giữ luật nghi lễ, bao gồm cả phép cắt bì, cũng không cần phải lo lắng về luật thanh sạch đi kèm với cam kết như vậy (so sánh Công vụ 10:28, 34, 35).

Rõ ràng, Phao-lô không có ý nói rằng Mười Điều Răn đã bị đóng đinh trên thập tự giá, vì ở những chỗ khác ông định nghĩa tội lỗi là sự vi phạm Mười Điều Răn (Rô-ma 7:7).

Đọc Cô-lô-se 2:16–19. Phao-lô nhấn mạnh những tập tục nào của người “Do Thái Tin Chúa” ở đây?

Cho đến ngày nay, các học giả vẫn chưa nhất trí về thực chất của các vấn đề mà Phao-lô đề cập ở đây là gì. Điều chúng ta có thể chắc chắn là chính bức thư của Phao-lô cung cấp khá nhiều thông tin về những gì dường như là ảnh hưởng gây chia rẽ giữa người “Do Thái Tin Chúa” đối với hội thánh mà phần đông là tín hữu người Ngoại bang này (Cô-lô-se 2:13). Nghĩa là, những tín đồ Do Thái đã thúc đẩy những điều mà các thành viên không cần phải tuân theo.

Rõ ràng Cô-lô-se 2:16 liệt kê một số tập tục Do Thái mà một số các tín đồ người Do Thái cải đạo (sang Cơ đốc giáo) vẫn tiếp tục giữ. Nhưng ngay cả các điểm trong Cô-lô-se 2:18 cũng phù hợp với cùng bối cảnh này. Đức Chúa Giê-su phê phán sự giả bộ khiêm nhường của các nhà lãnh đạo tôn giáo (ví dụ, Ma-thi-ơ 6:1, 5, 7, 16). Từ các cuộn Thánh Kinh Qumran, chúng ta biết rằng các thiên sứ đóng vai trò nổi bật trong một số quan niệm của người Do Thái về sự thờ phượng. Vì vậy, những vấn đề mà Phao-lô phải đối mặt ở Cô-lô-se rất có thể cũng tương tự như những vấn đề mà ông phải đối mặt ở các nơi khác.

Vì Cô-lô-se 2:16 thường bị hiểu lầm nên điều quan trọng là phải xem xét nó chi tiết hơn. Lưu ý những điểm sau:

Việc Phao-lô dùng hai chữ “Vì vậy” (hay “vì thế”) báo hiệu rằng đây là kết luận rút ra từ những gì ông đã nói. Trước đây, nhu cầu cắt bì theo nghĩa đen đã bị bác bỏ vì điều quan trọng là sự thay đổi bên trong của tấm lòng (Cô-lô-se 2:11–15).

“Thức ăn và đồ uống” ám chỉ đến các lễ vật là bữa ăn và đồ uống mà dân Y-sơ-ra-ên mang đến đền thờ.

Việc chỉ rõ “ngày lễ, ngày trăng mới hoặc ngày Sa-bát” (Cô-lô-se 2:16) dường như ám chỉ đến Ô-sê 2:11, trong đó trình tự các ngày nghi lễ tương tự được nhắc đến, bao gồm cả các ngày sa-bát theo nghi lễ (ví dụ, hãy xem Lê-vi Ký 23:11, 24, 32).

Điều quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về câu này là cách giải thích của chính Phao-lô: rằng những điều này “là bóng của những việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ” (Cô-lô-se 2:17). Những ngày lễ này, giống như các của lễ, chỉ về công việc của Đấng Christ (xem 1 Cô-rinh-tô 5:7, 1 Cô-rinh-tô 15:23). Ngược lại, ngày Sa-bát thứ bảy đã được thiết lập trong vườn Ê-đen, trước khi có tội lỗi, và rất lâu trước khi các của tế lễ trong nghi lễ của đền thờ được thiết lập; do đó, nó không phải là cái bóng bị xóa bỏ sau thập tự giá.

Mặc dù ngày Sa-bát thứ bảy không phải là vấn đề được đề cập ở đây, bạn có thể áp dụng lời khuyên của Phao-lô thế nào về việc không nên phán xét người khác?

Đọc Cô-lô-se 2:20–23. Bạn hiểu lời cảnh cáo của Phao-lô như thế nào khi xét đến các yếu tố khác mà các câu này bàn đến?

Như trong thư gửi tín hữu Ga-la-ti, Phao-lô mô tả mối quan tâm đến việc giữ các nghi lễ của người Do Thái là “các nguyên tắc sơ học của thế gian” (Cô-lô-se 2:8, 20; so sánh Ga-la-ti 4:3, 9). Nói cách khác, giống như đền thờ trên đất, những điều này thuộc về đất, nhưng quyền công dân của chúng ta ở trên trời. Chúng ta không cần phải vướng bận với luật nghi lễ vì nó chỉ là hình bóng của thực tại mà chúng ta hiện đang được hưởng qua Đấng Christ. Nghĩa là, mặc dù ban đầu được Đức Chúa Trời ban cho những quy định ấy, nhưng sau khi đã hoàn thành chức năng rồi, chúng không còn cần thiết nữa.

Bởi vì tất cả những quy định này đã bị xóa bỏ tại thập tự giá, như được chỉ ra bởi bàn tay thần thánh xé bức màn đền thờ (Ma-thi-ơ 27:51; so sánh Đa-ni-ên 9:27), các Cơ Đốc nhân (kể cả Cơ Đốc nhân Do Thái) không phải tuân theo những quy định này. Khi tuân theo chúng, tức là chúng ta sẽ đồng hóa mình với thế gian này, là thế gian đang qua đi, trái ngược với thế giới mới được hứa cho chúng ta trong Đấng Christ.

Suy cho cùng, chúng ta mong đợi “trời mới đất mới, là nơi sự công bình ngự trị” (2 Phi-e-rơ 3:13) chứ không chỉ là sự đổi mới của thế gian hư cũ này.

Bên cạnh thực tế là những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo đã thêm những yêu cầu của con người vào các quy định của Môi-se (xem Mác 7:1–13), việc duy trì các nghi lễ trong Cựu Ước, vốn đã được Đấng Christ hoàn thành, không còn có thể được coi là đòi hỏi của Đức Chúa Trời nữa, mà chỉ là những bổn phận do con người áp đặt. Thật vậy, dường như chúng đang trở thành gánh nặng cho đức tin, trái ngược với những gì để nâng cao đức tin. Thật dễ dàng để bắt đầu coi việc giữ tất cả những điều này không chỉ khiến bản thân trở nên cao hơn những người không làm, điều này đã đủ tệ rồi; mà thậm chí có lẽ còn tinh tế hơn là rất dễ cho người ta xem đó là công đức để được cứu rỗi, một cái bẫy mà chúng ta không muốn bước vào.

Trong suốt lịch sử Cơ Đốc giáo, các chuyên gia Kinh Thánh đã khuất phục trước sự cám dỗ đưa ra những tuyên bố tôn giáo, chiếm đoạt vai trò của Đức Thánh Linh trong việc hướng dẫn các tín đồ về ý nghĩa của các câu này. Chỉ có Đấng Christ là nguồn suối mà từ đó sự thật của Kinh Thánh như được truyền dạy bởi Phao-lô và các tác giả khác của Kinh Thánh.

Làm sao chúng ta có thể chắc chắn để hiểu rằng nền tảng duy nhất cho sự cứu rỗi của chúng ta là những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta, bên ngoài chúng ta, thay cho chúng ta—bất kể Ngài làm gì trong chúng ta?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Cũng như trong thời các sứ đồ, con người đã cố gắng dùng truyền thống và triết học để phá hủy đức tin nơi Kinh Thánh, thì ngày nay, bằng những quan điểm hấp dẫn của những phê bình cao cấp, thuyết tiến hóa, thuyết duy linh hay vong hồn hiện thuyết, thuyết tâm linh vũ trụ, và thuyết đa thần, đều là những kẻ thù của sự công bình và chính trực, và các thuyết lý ấy đang tìm cách dẫn dắt các linh hồn vào những con đường cấm. Đối với nhiều người, Kinh Thánh của họ giống như ngọn đèn không có dầu, vì họ đã biến tâm trí mình thành những kênh niềm tin suy đoán mang lại sự hiểu lầm và nhầm lẫn. Công việc của phê bình cao cấp, trong việc mổ xẻ, suy đoán, tái cấu trúc, đang phá hủy niềm tin vốn xem Kinh Thánh như một sự mặc khải thiêng liêng. Nó đang cướp đi sức mạnh của lời Chúa để kiểm soát, nâng cao và truyền cảm hứng cho cuộc sống con người. Bằng thuyết duy linh (hay vong hồn hiện thuyết), vô số người được dạy để tin rằng lòng khao khát là luật cao nhất và đó là giấy phép để sự tự do làm mọi điều không cần kềm chế, và rằng con người chỉ chịu trách nhiệm với chính mình. “Những người theo Đấng Christ sẽ gặp những ‘lời lẽ hấp dẫn’ mà sứ đồ Phao-lô đã cảnh báo các tín đồ tại Cô-lô-se. Họ sẽ gặp những cách giải thích theo thuyết duy linh về Kinh Thánh, nhưng họ không được chấp nhận chúng. Tiếng nói của họ phải được lắng nghe trong sự khẳng định rõ ràng về những chân lý vĩnh cửu của Kinh Thánh. Luôn xây đôi mắt hướng về Đấng Cứu Thế, họ phải tiến về phía trước một cách vững chắc trên con đường đã vạch ra, loại bỏ mọi ý tưởng không phù hợp với lời dạy của Ngài. Lẽ thật của Đức Chúa Trời phải là chủ đề để họ chiêm nghiệm và suy ngẫm. Họ phải xem Kinh Thánh là tiếng nói của Đức Chúa Trời nói trực tiếp với họ. Nhờ đó, họ sẽ tìm thấy sự khôn ngoan thiêng liêng.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 474, 475.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đọc lại và giải thích Cô-lô-se 2:9, 10? Xin xem thêm Giăng 1:1, Hê-bơ-rơ 1:3 và 1 Phi-e-rơ 3:22.
  2. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã nghe Cô-lô-se 2:14–16 được dùng làm lập luận chống lại ngày Sa-bát thứ bảy. Ngoài những vấn đề mà bài học tuần này nêu ra, còn có những vấn đề nào khác đi kèm với việc dùng các câu này để lập luận rằng chúng ta không còn cần phải giữ điều răn thứ tư nữa?
  3. Bạn sẽ đối phó thế nào với những người khăng khăng rằng chúng ta cũng phải tuân thủ các luật nghi lễ? Mặc dù, có lẽ, người ta có thể tìm thấy một số phước lành về mặt tâm linh hoặc thần học khi tuân thủ chúng, nhưng có những vấn đề gì phát sinh khi khăng khăng rằng chúng phải được tuân thủ?

Bài Học 921 – 27 Tháng 2

 

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Cô-lô-se 1:21–29, Ê-phê-sô. 5:27, Ê-phê-sô 3:17, Rô-ma 8:18, Ê-phê-sô 1:7–10, Ê-phê-sô 3:3–6, Châm ngôn 14:12.

Câu Gốc: ‘“Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”’ (2 Cô-rinh-tô 5:21).

Đọc Cô-lô-se 1:21, 22. Phao-lô ám chỉ điều gì khi nhắc đến sự xa cách và thù nghịch? Và kết quả cuối cùng được mong đợi từ sự chết của Đấng Christ là gì (xem thêm Ê-phê-sô 5:27)?

Phao-lô thường vẽ một bức tranh ảm đạm về nhân loại, ít nhất là nhân loại tách biệt khỏi sự công chính của Đấng Christ. Và ngày nay, gần hai ngàn năm sau, ai có thể phản biện lại quan điểm đó?

Tuy nhiên, kể từ khi tội lỗi xâm nhập, Đức Chúa Trời đã chủ động mang lại sự hòa thuận giữa Ngài với chúng ta, dù chúng ta xấu xa đến đâu. Nghĩa là, ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã hành động để giải quyết vấn đề tội lỗi, ngay cả khi giải pháp chỉ có thể tìm thấy trong chính cái chết của Ngài trên thập tự giá.

Trong vườn Ê-đen, Ngài đã gọi A-đam, kiệt tác sáng tạo của Ngài, “Ngươi ở đâu?” (Sáng thế Ký 3:9). Và ngày nay, Ngài vẫn tiếp tục tìm kiếm những chiên lạc của Ngài—là chúng ta. Ngài tìm kiếm chúng ta từng người một. Ngài có một kế hoạch hoàn hảo để tiếp cận chúng ta, áp dụng lời hứa phúc âm đầu tiên trong Sáng thế Ký 3:15, đặt sự thù nghịch giữa chúng ta và Sa-tan.

Đôi khi trong cách giải thích phúc âm, người ta làm nó quá phức tạp và mang tính lý thuyết đến mức nó không có nhiều ý nghĩa thực tế đối với cuộc sống thế kỷ 21. Nhưng thực ra nó khá đơn giản và dễ hiểu.

Phúc âm có ba phần:

Đầu tiên, vì chúng ta bất lực không thể tự cứu mình, nên Đức Chúa Giê- su đã đến và chết vì tội lỗi chúng ta. (Xem Rô-ma 5:6–8.)

Thứ hai, bằng cách chấp nhận sự chết của Ngài là thay thế cái chết của chúng ta qua đức tin, lòng ăn năn và chịu báp têm, chúng ta được xưng công bình và được giải thoát khỏi sự lên án vì tội lỗi mình. (Xem Rô-ma 5:9–11; Rô-ma 6:6, 7.)

Thứ ba, cuộc sống chúng ta đang sống hiện nay là kết quả của việc hiệp nhất với Đấng Christ, trải nghiệm quyền năng tái tạo của Ngài, và Ngài sống cuộc sống của Ngài trong chúng ta. (Xem 2 Cô-rinh-tô 5:17–21, Ga-lati 2:20.)

Đây không nhất thiết là những bước hoặc những sự kiện riêng biệt. Chúng có thể xảy ra cùng một lúc, ngay khi chúng ta sẵn sàng chấp nhận Đức Chúa Giê-su vào cuộc sống của mình. Và chúng có thể được đổi mới mỗi ngày khi chúng ta dâng mình cho Ngài mỗi buổi sáng. Bất kể mỗi người chúng ta đã trải nghiệm công việc cứu rỗi của Đấng Christ trong cuộc sống của mình như thế nào, nền tảng luôn dựa trên cái chết của Đức Chúa Giê-su. Chúng ta phải luôn nhớ điều đó.

Khi tự nhìn vào bản thân, tính cách và con người sâu thẳm bên trong mình, những gì bạn thấy cho bạn biết gì về nhu cầu về thập tự giá của mình?

Đọc Cô-lô-se 1:23. Bạn nghĩ Phao-lô có ý gì khi nói rằng hãy “vững vàng và không nao núng” trong đức tin? (Xem thêm Cô-lô-se 2:5 và Ê-phê- sô 3:17.)

Có bốn loại “nếu” khác nhau trong hành văn tiếng Hy Lạp. Câu mà Cô- lô-se 1:23 bắt đầu “nếu như mà” hay “miễn là” cho rằng điều kiện là đúng. Nghĩa là, Phao-lô khích lệ người Cô-lô-se với ý tưởng rằng họ sẽ thực sự tiếp tục trong đức tin. Như Phao-lô sớm chỉ ra, ông đã thấy bằng chứng về đức tin và sự vững vàng của họ (Cô-lô-se 2:5). Tuy nhiên, hy vọng của họ vẫn phụ thuộc vào việc họ kiên trì trên con đường đức tin mà họ đã bước vào.

Ý tưởng về sự kiên trì này là ý nghĩa của từ tiếng Hy Lạp được dịch là “tiếp tục” (Cô-lô-se 1:23). Nó đã được dùng khi nói về các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tiếp tục yêu cầu Đức Chúa Giê-su phải trả lời về việc nên làm gì với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (Giăng 8:7); cũng như việc Phi-e-rơ tiếp tục gõ cửa sau khi Rô-đa nhận ra giọng nói của ông nhưng vẫn để cửa khóa và chạy vào trong báo cho những người khác (Công vụ 12:16). Nó cũng được Phao-lô dùng khi ông khuyến khích Ti-mô-thê tiếp tục trung thành với những chỉ dẫn về giáo lý và thực hành những điều ông dạy bảo (1 Ti-mô-thê 4:16). Ý nghĩa của cách Phao-lô dùng chữ này ở đây cũng tương tự như thế, khác chăng là nó được áp dụng cho tất cả tín đồ nói chung.

Như chúng ta sẽ thấy trong bài học tuần tới, Phao-lô lo ngại rằng người Cô-lô-se có thể chạy theo những phương cách cứu rỗi dựa trên con người thay vì giữ chặt hy vọng mà phúc âm mang lại (thí dụ, Cô-lô-se 2:8, 20–22). Các chữ “có nền tảng” ám chỉ việc đặt nền tảng vững chắc của đức tin và tình yêu dựa trên Lời Chúa (xem Ma-thi-ơ 7:25, Ê-phê-sô 2:20, Ê-phê-sô 3:17).

Liên quan đến ý tưởng này là từ ngữ trong tiếng Hy Lạp được dịch là “kiên định” hay “không nao núng,” ám chỉ một cấu trúc bất động và theo nghĩa mở rộng, ám chỉ một Cơ Đốc nhân không thể “bị lay chuyển khỏi hy vọng của phúc âm” (Cô-lô-se 1:23). Cùng một từ được sử dụng trong 1 Cô-rinh-tô 15:58: “hãy kiên định, không lay chuyển, luôn luôn dư dật trong công việc của Chúa, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu”.

Trái với niềm tin phổ biến rằng “một khi được cứu, sẽ được cứu mãi mãi,” Phao-lô đang nói một điều hoàn toàn khác.

Kinh nghiệm của bạn về tầm quan trọng của việc tiếp tục thực hành đức tin là gì? Đó là, tại sao bạn phải luôn đưa ra lựa chọn có ý thức để làm điều đó? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không làm vậy?

 Đọc Cô-lô-se 1:24, 25. Phao-lô nói gì về sự chịu khổ của ông vì Đấng Christ?

Mặc dù Phao-lô đã viết thư Cô-lô-se khi đang bị quản thúc tại gia ở Rô- ma. Có lẽ nỗi đau khổ lớn nhất của ông lúc này là từ việc không thể nhiệt tình hầu việc Chúa từ nơi này sang nơi khác và từ nhà này sang nhà khác, như ông đã từng làm trước đây (Công vụ 20:20). Những đau khổ (hay hoạn nạn) này, mà Đấng Christ đã báo trước (Ma-thi-ơ 24:9, Giăng 16:33), “không đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến sẽ được bày tỏ trong chúng ta” (Rô- ma 8:18). Đây là bức tranh lớn hơn. Như Phao-lô đã viết cho các Cơ Đốc nhân ở Phi-líp, thì bây giờ đối với người Cô-lô-se, ông vui mừng về những đau khổ của mình, vì lợi ích của họ (Cô-lô-se 1:24).

Phao-lô có thể đang ở trong tù, nhưng “lời Đức Chúa Trời không bị trói buộc” (2 Ti-mô-thê 2:9). Trong thời gian Phao-lô bị giam cầm, thư cho các tín hữu tại Phi-líp, Ê-phê-sô và cho Phi-lê-môn cũng được viết. Sau khi được thả, Đức Chúa Trời đã soi dẫn ông viết những lời khuyên quan trọng được tìm thấy trong 1 Ti-mô-thê và Tít. Sau đó, trong thời gian bị giam cầm cuối cùng trong nhà tù La Mã, ông đã viết 2 Ti-mô-thê. Tóm lại, những năm cuối này đã mang đến cho Phao-lô cơ hội để viết một phần quan trọng của Tân Ước, có lẽ bao gồm cả sách Hê-bơ-rơ.

Kế hoạch đời đời của Chúa đã nhìn thấy tất cả những điều này và hơn thế nữa. Phao-lô dùng từ trong tiếng Hy Lạp oikonomia trong Cô-lô-se 1:25, thường được dịch là “quyền quản lý.” Ý nghĩa như trong 1 Ti-mô-thê 1:4, nó ám chỉ “cách Đức Chúa Trời sắp xếp mọi thứ.” Điều đó bao gồm cả chức vụ sứ đồ của Phao-lô. Nhưng theo nghĩa rộng hơn, nó bao gồm tất cả những điều khoản mà Đức Chúa Trời đã thực hiện trong kế hoạch cứu rỗi. Chức vụ của Phao-lô, các sứ đồ khác, và thậm chí cả các tiên tri trong Cựu Ước (Ê-phê-sô 2:20, Ê-phê-sô 3:5) kể cả Môi-se, được thiết kế “để làm ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời” (Cô-lô-se 1:25), tất cả đều liên quan đến kế hoạch thiêng liêng này.

Mặc dù chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn chủ đề này trong bài học ngày mai, nhưng điều hữu ích ở đây là lưu ý rằng Phao-lô thừa nhận chức vụ của ông chỉ là một phần nhỏ trong một kế hoạch thiêng liêng lớn hơn, dài hạn hơn nhiều, bắt đầu được thực hiện “từ khi sáng thế” (Ma-thi-ơ 13:35, Ê-phê-sô 1:4).

Hãy nghĩ về cuộc sống của chính bạn. Những quyết định bạn đưa ra (lớn và nhỏ) có thể phù hợp như thế nào với kế hoạch lớn hơn của Chúa? Chúng ta có thực sự biết được liệu một quyết định có thực sự chỉ là “nhỏ” không ? Làm thế nào quyết định nhỏ ấy lại có thể có những kết quả lớn hơn mà chỉ sau này mình mới thấy rõ?

Đọc Cô-lô-se 1:26, 27. Phao-lô nói hai lần về “sự mầu nhiệm.” Vậy đó là sự mầu nhiệm nào?

Ở một chỗ khác, Phao-lô nhắc đến “sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời,” tức là mục đích đời đời của Đức Chúa Trời “đã định trước từ trước các thời đại cho sự vinh hiển của chúng ta” (1 Cô-rinh-tô 2:7) và được bày tỏ qua kế hoạch cứu rỗi. Phi-e-rơ nói về lẽ thật này như một điều mà các tiên tri đã dự đoán trước và “các thiên sứ ao ước nhìn thấu” (1 Phi-e-rơ 1:10–12). Nó đã được vạch ra “trước khi sáng thế” (1 Phi-e-rơ 1:20) và “đã giấu kín từ mọi đời trước” (Rô-ma 16:25). Tuy nhiên, qua sự sống, sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ, sự mầu nhiệm này đã được tỏ lộ (2 Cô-rinh-tô 3:14).

Tham khảo hai đoạn sau đây về sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Chúng làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của kế hoạch cứu rỗi như thế nào?

1. Ê-phê-sô 1:7–10

2. Ê-phê-sô 3:3–6

Cuối cùng, “mọi vật” trên trời và dưới đất sẽ được quy tụ lại thành một trong Đấng Christ. Đây là trọng tâm lời cầu nguyện của Đấng Christ trong Giăng 17. Đích thực điều này sẽ xảy ra như thế nào là một điều bí ẩn mà giờ đây đã được tiết lộ qua phúc âm.

Tại sao Đức Chúa Trời quá yêu thương chúng ta đến nỗi ban Đức Chúa Giê-su là điều quí báu vô giá của thiên đàng, để cứu rỗi chúng ta, sẽ là bài học của chúng ta trong suốt cõi đời đời. Nhưng chúng ta biết điều này: Đấng Christ “đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ sống không còn sống cho chính mình nữa, nhưng sống cho Đấng đã chết và sống lại vì họ” (2 Cô-rinhtô 5:15). Kết quả là, tất cả những ai tin vào Đấng Christ, cả người Do ‡ái và người Ngoại, đều chia sẻ bình đẳng những lời hứa của Đức Chúa Trời qua phúc âm và đã được quy tụ lại thành một thân thể, tức là Hội thánh.

“Đấng Christ ở trong anh em” (Cô-lô-se 1:27) ám chỉ sự ngự trị của Đấng Christ trong lòng bởi đức tin (Ê-phê-sô 3:17; so sánh Ga-la-ti 2:20). Sự hiệp nhất thuộc linh này với Đấng Christ cho phép các tín đồ ngay cả bây giờ “ngồi chung với nhau ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 2:6) và nếm thử “quyền năng của thế giới hầu đến” (Hê-bơ-rơ 6:5). Qua sự hiện diện của Đấng Christ trong cuộc sống chúng ta, Ngài đã bắt đầu kết hợp chúng ta với thiên đàng. Chính phúc âm đang hoạt động trong lòng những người tin Chúa “đã khiến chúng ta đủ điều kiện để dự phần cơ nghiệp của các thánh đồ trong sự sáng”(Cô-lô-se 1:12).

Đọc Cô-lô-se 1:28, 29. Trọng tâm Phao-lô muốn nói đến là gì? Tại sao bạn nghĩ cụm từ “mọi người” được lặp lại ba lần?

Trọng tâm của bài giảng của Phao-lô là Đấng Christ, và Ngài bị đóng đinh nơi thập giá (1 Cô-rinh-tô 1:23). ‡eo Ê-phê-sô 5:27, mục đích của sự hy sinh của Đấng Christ là “để Ngài có thể trình diện trước mặt Ngài một Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được.” Do đó, mục đích của bài giảng phúc âm của Phao-lô là “bày tỏ mọi người trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ” (Cô-lô-se 1:28). Ông thực hiện điều này bằng cách dạy dỗ và cảnh báo—dạy những điểm khác nhau về giáo lý và thực hành của Cơ Đốc giáo (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:15, 1 Ti-mô-thê 4:11, 1 Ti-mô-thê 5:7, Tít 1:9) và cảnh báo về hậu quả của việc từ chối phúc âm và về những nguy hiểm của các giáo sư giả

(Công vụ 20:29–31, Rô-ma 16:17).

Đây là cách chúng ta khôn lớn để trở thành những Cơ Đốc nhân trưởng thành, bằng cách tin nhận những lời dạy và lắng nghe những lời cảnh báo của Kinh ‡ánh. Sự trưởng thành là một khái niệm quan trọng. Cha mẹ của một đứa trẻ sơ sinh ăn mừng mọi cột mốc quan trọng—những lời nói đầu tiên, học đi và học đọc. Cha mẹ nào sẽ không lo lắng nếu con mình, sau nhiều năm, vẫn không thể đi hoặc nói? Sự tăng trưởng và phát triển là bình thường và được mong đợi. Điều tương tự cũng đúng với đời sống Cơ Đốc nhân.

Từ Hy Lạp được dịch là “trưởng thành” (teleios) có nghĩa là hoàn hảo, trọn vẹn và không có khuyết điểm. Qua quá trình tăng trưởng của Cơ Đốc nhân, chúng ta nhận thức sâu sắc về chiều sâu của luật pháp Đức Chúa Trời và rằng các yêu cầu của luật pháp “vô cùng rộng lớn” (]i thiên 119:96). Chúng ta hiểu rằng luật pháp mở rộng đến “những ý nghĩ và ý định của lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12).

Nhưng chúng ta cần phải cẩn thận, đó là lý do tại sao Phao-lô sử dụng từ “cảnh báo” trong Cô-lô-se 1:28. Con đường “coi dường chánh đáng. . . là nẻo của sự chết” (Châm ngôn 14:12). Sự phân định thuộc linh đến từ sự hiểu biết được ‡ánh Linh hướng dẫn về Lời Chúa. Những lời dạy sai lầm thường có một số sự thật nhưng hoặc thêm vào hoặc bớt đi một điều gì đó trong những gì Kinh ‡ánh nói (xem Ê-sai 8:20). Điều sau thường thành công, nếu không phải bằng cách trực tiếp nghi ngờ những gì Chúa nói, thì ít nhất là bằng cách đặt câu hỏi liệu điều đó có thực sự khả thi hay không hoặc liệu nó có thể áp dụng cho thời đại của chúng ta hay không. Chúng ta phải khôn ngoan như rắn nhưng đơn sơ như chim bồ câu khi nói đến việc phân biệt lẽ thật giáo lý với sai lầm.

Bạn hiểu thế nào về ý nghĩa của việc “trọn vẹn trong Đấng Christ” (Cô-lô-se 1:28)? Hiểu biết về những gì Đức Chúa Giê-su đã hoàn tất cho chúng ta trên thập tự giá giúp chúng ta biết thế nào là “trọn vẹn trong Đấng Christ”?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Tự mình chúng ta không có được sự công bình để nhờ đó làm trọn mọi điều kiện của luật pháp Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Giê-su đã mở một lối thoát cho chúng ta … Nếu bạn tự hiến mình cho Ngài và tiếp nhận Ngài là Đấng Cứu ‡ế của mình, thì dầu bạn có tội lỗi đầy dẫy thế nào mặc lòng, Chúa cũng lấy sự công bình Ngài mà khoác lên cho bạn. Bản tánh của Chúa sẽ thay thế bản tánh của bạn và bạn sẽ được tiếp đón trước mặt Đức Chúa Trời như bạn chưa hề phạm tội bao giờ cả.

“Hơn nữa, Chúa Giê-su sẽ thay đổi lòng bạn. Ngài sẽ bởi đức tin bạn mà ngự vào lòng. Bạn cần phải duy trì mối tương quan nầy với Đấng Cơ Đốc bằng đức tin và bằng cách dâng hiến ý chí bạn cho Ngài. Hễ khi nào bạn còn làm vậy, Ngài sẽ hành động trong bạn để bạn vừa muốn vừa làm theo ý tốt đẹp của Ngài …

“Xét như thế, ta thấy trong ta không có gì để khoe khoang cả. Ta không có gì để tự tôn. Niềm hy vọng duy nhất của chúng ta đặt trong sự công bình mà Đấng Cơ Đốc đã ban cho, và trong việc làm mà Đức Thánh Linh hành động trong và qua chúng ta.”—Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 54.

“Ánh sáng ban cho tôi rất mạnh mẽ đến nỗi nhiều người sẽ rời xa chúng ta, để ý đến những linh hồn quyến rũ và giáo lý của ma quỷ. Chúa mong muốn rằng mọi linh hồn tuyên bố tin vào lẽ thật sẽ có sự hiểu biết sáng suốt về lẽ thật.”—Ellen G. White, Evangelism, tr. 363.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đọc lại câu gốc: “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21). Điều này có nghĩa là gì? Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì chúng ta có nghĩa là gì, và điều đó giúp chúng ta hiểu bản chất thay thế của Thập tự giá như thế nào? Ngoài ra, “nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” có nghĩa là gì?
  2.  Hãy suy ngẫm thêm về câu hỏi “một khi được cứu, mãi mãi được cứu,” mà nhiều Cơ Đốc nhân tin. Tại sao chúng ta tin rằng đây là một giáo lý sai lầm? Nó gây ra những nguy hiểm rõ ràng nào cho người tin vào điều này? Làm sao con người, ngay cả khi từ chối giáo lý đó, vẫn có thể có sự đảm bảo về sự cứu rỗi?
  3. “Vững vàng không núng” (Cô-lô-se 1:23) trong đức tin của mình như thế nào? Làm sao bạn biết rõ điều mình tin và lý do mình tin? Bạn có thể làm gì để hiểu rõ hơn về điều mình tin? Và tại sao việc bạn “vững vàng và kiên định” trong đức tin lại quan trọng đến vậy?

Bài Học 8,  14 – 20 Tháng 2

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Sáng thế Ký 1:26, 27; Cô-lô-se 1:15–20; Giăng 1:1–3; Ê-phê-sô 1:22; 1 Cô-rinh-tô 12:12–27; 1 Cô-rinh-tô 4:9; Rô-ma 6:3, 4.

Câu Gốc:  ‘“Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài.”’ (Cô-lô-se 1:15–17).

Khi chúng ta nhìn vào gương hoặc vào một bức ảnh, chúng ta thấy hình ảnh của chính mình, nhưng đó là một bức chân dung phẳng, hai chiều. Ở một khía cạnh khác, một tác phẩm điêu khắc mang lại một ý tưởng rõ ràng hơn nhưng vẫn còn kém xa so với thực tế sống động, biết thở và linh hoạt. Khái niệm hình ảnh trong Kinh Thánh, dù đôi khi có thể ám chỉ những hình thức mô phỏng kém hơn này, nhưng lại mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều.

Đọc Sáng thế Ký 1:26, 27; Sáng thế Ký 5:3; 1 Cô-rinh-tô 15:49; 2 Cô- rinh-tô 3:18; và Hê-bơ-rơ 10:1. Tóm tắt các ý nghĩa khác nhau của “hình ảnh” trong các câu Kinh Thánh này. Chúng có thể khác với sự mô tả về Đức Chúa Giê-su như là hình ảnh của Đức Chúa Trời như thế nào?

Con người được tạo ra để giống Đức Chúa Trời nhất có thể—về mặt thể chất, tinh thần, mối quan hệ và chức năng. Tuy nhiên, họ chỉ phản ánh hình ảnh của Chúa ở một số khía cạnh nào đó mà thôi, và tội lỗi đã làm hỏng cả điều đó. Nhưng qua Đức Chúa Giê-su, chúng ta “nhìn thấy” Đức Chúa Trời mà mắt chúng ta không thấy được. Chúa Giê-su phán, “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). Ngài là “hình ảnh chính xác” của bản chất Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:3). Ngài là tư tưởng của Đức Chúa Trời được thể hiện bằng lời, và là bản tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách hữu hình.

Đọc Ma-thi-ơ 11:27 và Giăng 1:1, 2, 14, 18. Tại sao Đức Chúa Giê-su có khả năng đặc biệt để bày tỏ về Đức Chúa Cha?

Lưu ý những cách khác mà Đức Chúa Giê-su mô tả mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Cha:

• “Cha Ta làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng làm việc” (Giăng 5:17).

• “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30).

• “Chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

Đức Chúa Giê-su cũng nhiều lần mô tả chính Ngài theo nghĩa tuyệt đối dưới danh xưng của Đức Chúa Trời: “TA LÀ” (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14); “Ta là bánh của sự sống” (Giăng 6:35); “Ta là sự sáng của thế gian” (Giăng 8:12); “Ta là người chăn hiền lành” (Giăng 10:11, 14); “Ta là sự sống lại và sự sống” (Giăng 11:25); “Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta” (Giăng 14:11); và “Trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta” (Giăng 8:58).

Nếu Đức Chúa Giê-su là bất kỳ ai khác ngoài chính Đức Chúa Trời, thì điều đó có nghĩa gì hơn việc Chúa Cha đã sai một tạo vật nào đó đến để chết vì chúng ta? Tại sao điều đó lại hoàn toàn và vô cùng khác biệt so với việc chính Đức Chúa Trời, trong Con Người của Đấng Christ đã chịu chết vì chúng ta?

Trong Tân Ước, thuật ngữ “con đầu lòng” và “Con cả” hầu như luôn ám chỉ Đức Chúa Giê-su (xem Lu-ca 2:7, Rô-ma 8:29, Hê-bơ-rơ 1:6, Khải huyền 1:5), kể cả hai lần được dùng trong Cô-lô-se. Nhưng ngay cả khi nó dùng để chỉ về một ai đó, nó không nhất thiết có nghĩa là người được sinh ra đầu tiên theo thứ tự thời gian. Khái niệm Kinh Thánh về “con đầu lòng” (hay quyền trưởng nam) nhấn mạnh mối quan hệ đặc biệt mà một đứa con trai dành cho người cha, bất kể thứ tự sinh ra trong gia đình. Chúng ta biết có những trường hợp người con trai hàng thứ lại nổi bật hơn: Y-sác, Gia-cốp và Giô- sép, là thí dụ. Đa-vít, dầu là con út trong tám người con trai, đã được xức dầu làm vua (1 Sa-mu-ên 16:10–13), và qua tác giả Thi thiên, Đức Chúa Trời đã phán, “Ta sẽ lập người làm con đầu lòng của Ta, là vua cao nhất trong các vua trên đất” (Thi thiên 89:27). Ngài cũng nói với Môi-se, “Y-sơ-ra-ên là con trai đầu lòng của Ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22). Theo nghĩa này, thì thuật ngữ này ám chỉ đến sự trước tiên hết mọi sự.

Đọc Cô-lô-se 1:15–17. Phao-lô đưa ra những lý do nào để Đức Chúa Giê-su được gọi là “Đấng sinh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên”?

Rõ ràng là Phao-lô không có ý cho rằng Đức Chúa Giê-su là người đầu tiên được tạo ra. Trên thực tế, ông loại trừ sự khả dĩ ấy một cách tuyệt đối. Hai lần khác nhau, ông nói rằng Đức Chúa Giê-su đã tạo ra mọi vật. Chúng được tạo ra bởi Ngài và cho Ngài (Cô-lô-se 1:16). Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Giê-su được chỉ ra là tác nhân mà qua đó Đức Chúa Trời thực hiện quá trình sáng tạo (xem thêm Ê-phê-sô 3:9, Giăng 1:1–3, Khải huyền 4:11).

Lời tuyên bố của Phao-lô là đầy đủ nhất. “Mọi sự” là mọi sự—về mặt không gian (trời và đất), về mặt bản thể (hữu hình và vô hình), và về mặt chức năng (ngai vàng, quyền thống trị, các vương quốc, các quyền bính). Các thuật ngữ sau thường ám chỉ các thiên sứ (xem Ê-phê-sô 3:10, Ê-phê-sô 6:12).Và như để chắc chắn rằng mình không bị hiểu lầm, Phao-lô cũng chỉ ra rằng Đức Chúa Giê-su đã hiện hữu “trước muôn vật” (Cô-lô-se 1:17). Cụm từ tiếng Hy Lạp có thể có nghĩa là đứng đầu theo thứ bậc và cho cả về thời gian “trước sau”; nhưng trong mọi trường hợp được Phao-lô dùng, nó ám chỉ đến thời gian (thí dụ, 1 Cô-rinh-tô 2:7, Ga-la-ti 1:17, Ê-phê-sô 1:4).

Một lý do khác mà Phao-lô đưa ra cho sự trước tiên hết của Đức Chúa Giê-su là “mọi vật đứng vững trong Ngài” (Cô-lô-se 1:17). Tiếng Hy Lạp ( synistēmi) theo nghĩa đen có nghĩa là “mang lại với nhau” hoặc “hiệp lại.” Đức Chúa Giê-su là yếu tố hiệp nhất của vũ trụ, không chỉ vì vai trò của Ngài là Đấng Tạo Hóa mà còn vì Ngài là Đấng Cứu Chuộc.

Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, đã chết vì chúng ta. Việc làm của chúng ta có thể thêm gì vào điều đó? Tại sao ý tưởng rằng việc làm của chúng ta có thể thêm vào những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta lại là phạm thượng?

Đọc Ê-phê-sô 1:22 và Cô-lô-se 2:10. “Đầu” có nghĩa là gì trong các câu này? Phao-lô có ý gì khi ông gọi Đức Chúa Giê-su là “đầu của Hội thánh” (Ê-phê-sô 5:23)?

Khi nói về cái đầu, trong vô số ngôn ngữ hay văn hóa toàn cầu, nó biểu tượng đến vị trí lãnh đạo. Chúng ta thấy cách dùng tương tự trong Cựu Ước và Tân Ước:

1. Xuất Ê-díp-tô Ký 18:25—Môi-se chọn “những người tài giỏi trong cả Y-sơ-ra-ên, lập họ làm đầu dân sự, …”

2. Dân số Ký 31:26 — “các trưởng tộc”.

3. Phục truyền 28:13—Đức Chúa Trời sẽ khiến Y-sơ-ra-ên “làm đầu, chứ không phải làm đuôi” nếu họ vâng lời Ngài.

4. Ê-sai 7:8 —“Vì đầu của Sy-ri là Đa-mách, và đầu của Đa-mách là “Rin.”

5. Ô-sê 1:11 —“Con cái Giu-đa và con cái Y-sơ-ra-ên sẽ . . . chỉ định cho mình một thủ lĩnh”.

6. Mi-chê 3:9 —“Hỡi các trưởng tộc nhà Gia-cốp, và các quan cai nhà Y-sơ-ra-ên.”

7. 1 Cô-rinh-tô 11:3 —“Đấng Christ là đầu của mọi người.”

Vì vậy, Đấng Christ là đầu của Hội thánh, cung cấp sự lãnh đạo, hướng dẫn và nuôi dưỡng sự hiệp nhất và tăng trưởng của Hội thánh (xem Cô-lô-se 2:19).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 12:12–27. Ở đây, Phao-lô cũng mô tả hội thánh là một “thân thể.” Những khía cạnh nào khác của hội thánh được truyền đạt qua ẩn dụ này?

Cũng giống như cơ thể không thể sống thiếu đầu, khi một bộ phận cơ thể bị mất hoặc bị thương, cuộc sống có thể khó khăn hơn nhiều. Chúng ta thường không nhận ra tầm quan trọng của một thứ gì đó cho đến khi chúng ta mất nó.

Nếu bạn phải từ bỏ một chi hoặc một con mắt, bạn sẽ chọn gì? Điều này cho bạn biết điều gì về tầm quan trọng của mỗi người với tư cách là thành viên của hội thánh?

Sự bình an vượt quá sự hiểu biết cũng sẽ “bảo vệ lòng và trí anh em qua Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 4:7). Đời sống bên trong của chúng ta cần được bảo vệ. Điều thú vị là Phi-líp 4:7 sử dụng phép ẩn dụ quân sự liên quan đến sự bình an của Đức Chúa Trời. Động từ tiếng Hy Lạp (phroureō) được dùng để mô tả một đội quân đồn trú bảo vệ một thành phố chống lại sự xâm lược (2 Cô-rinh-tô 11:32; so sánh Công vụ 9:24).

Một khía cạnh rất quan trọng khác của sự bình an nội tâm liên quan đến việc sống hòa hợp với ý muốn của Chúa. “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã” (Thi thiên 119:165).

Đọc Phi-líp 4:8, 9. Những hành động cụ thể nào được thúc giục ở đây?

Phao-lô giới thiệu Phi-líp 4:8,9 với hai chữ “rốt lại” hay “hơn nữa” và liệt kê sáu đức tính, theo sau là bản tóm tắt ngắn gọn về chúng và lời khuyến khích noi theo tấm gương của Phao-lô. Lời khuyên kết thúc mang tính xuyên văn hóa này phù hợp với bối cảnh Hy Lạp-La Mã của Phi-líp, với sự nhấn mạnh kép vào đức hạnh và gương mẫu. Tuy nhiên, điều thật thú vị là, trọng tâm lại là các đức tính trong Kinh ‡ánh, điều này khá rõ ràng khi Phao-lô bỏ qua bốn đức tính chính của Hy Lạp (thận trọng, công bằng, tiết độ và can đảm).

1. Chân thật —không phải ngẫu nhiên, danh sách này bắt đầu với đức tính nền tảng theo Kinh Thánh là sự chân thật, điều mà Đức Chúa Giê-su (“Quả thật, ta nói . . .”) và toàn bộ Tân Ước thường nhấn mạnh (xem Công vụ 26:25, Rô-ma 1:18, 1 Cô-rinh-tô 13:6, 2 Cô-rinh-tô 4:2, Ê-phê-sô 4:15, 1 Ti-mô-thê 3:15, Gia-cơ 1:1, 1 Phi-e-rơ 1:22, 1 Giăng 2:21).

2. Cao quý — từ tiếng Hy Lạp dùng để chỉ về đức hạnh của một cá nhân (so sánh những cách sử dụng khác của nó trong 1 Ti-mô-thê 3:8, 11; Tít 2:2, được dịch là “tôn kính”).

3. Công bình — đức tính này được định nghĩa bởi bản chất công bình của Đức Chúa Trời (so sánh cách sử dụng trong Phi-líp 1:7).

4. Tinh khiết — tư tưởng và hành động xuất phát từ sự được Đức Chúa Trời xem là thanh sạch bởi đức tin (xem 1 Giăng 3:3).

5. Đáng yêu — vẻ đẹp thẩm mỹ, được thấy rất nhiều trong sự sáng tạo của Chúa.

6. Đáng khen —“tử tế, dễ mến và đáng quí”.

Phao-lô đưa ra thêm hai điều kiện nữa, kẻo một ý nghĩa ngoại giáo được gán cho bất kỳ đức tính nào trong số này: “nếu có điều gì tốt lành hay đáng khen” (Phi-líp 4:8), chúng ta phải nghĩ về những đức tính thiên thượng này. Sau đó, để xóa bỏ mọi nghi ngờ và hiểu lầm có thể có, Phao-lô kêu gọi chúng ta thực hành những gì chúng ta đã học, tiếp nhận, nghe và thấy từ chính tấm gương của ông (Phi-líp 4:9).

Đọc Cô-lô-se 1:19, 20. Sự hòa giải đến qua thập tự giá là gì và toàn diện đến mức nào?

Phao-lô sử dụng một cách diễn đạt rất thú vị trong Hy ngữ để kết thúc phần mô tả của ông về Đức Chúa Giê-su, ám chỉ gián tiếp đến Đức Chúa Cha, Đấng được nhắc đến trong Cô-lô-se 1:12. Chính sự đầy dẫy của Ngài mà Đức Chúa Cha đã vui lòng ngự trong Đức Chúa Giê-su (so sánh Cô-lô-se 2:9). “Sự đầy dẫy” này là gì? Giăng ám chỉ đến sự vinh quang của Đức Chúa Cha, “đầy ân điển và lẽ thật” (Giăng 1:14).

Nhưng, dựa trên những câu Kinh ‡ánh này, “sự đầy dẫy” đó bao hàm rất nhiều điều. Nó bao hàm sự hằng hữu và tự hữu của Đức Chúa Trời, và quyền năng sáng tạo và tái tạo của Ngài. Quan trọng nhất, nó nhấn mạnh sự khôn ngoan của Ngài trong việc chiến thắng tội lỗi và sự chết thông qua phương cách ngoài sức tưởng tượng—thập tự giá. Và do đó, Ngài đã biến đổi vật thể nhục nhã nhất đó thành một lời chứng về tình yêu vĩnh cửu của Ngài dành cho mọi tạo vật. “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

Cách duy nhất để tội lỗi thực sự có thể bị đánh bại mãi mãi, và mọi điều sẽ và có thể được hòa giải, được tóm tắt trong một chân lý huy hoàng: Đức Chúa Trời đã yêu—Ngài yêu vũ trụ, và Ngài quá yêu chúng ta đến nỗi đã liều bỏ mọi thứ để cứu chúng ta qua sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá. Hy ngữ có từ “thế giới” là kosmos, có thể bao hàm toàn bộ vũ trụ. Phao-lô ám chỉ đến sự minh chứng cho toàn vũ trụ này trong bối cảnh của việc đi theo Đấng Christ: “Chúng ta đã trở nên trò cười cho thế gian [ kosmos, vũ trụ], cho cả thiên sứ và loài người” (1 Cô-rinh-tô 4:9).

  • “Thiên đàng nhìn với sự đau buồn và kinh ngạc khi Đấng Christ bị treo trên thập tự giá … Bởi một cuộc sống phản loạn, Sa-tan và tất cả những ai kết hiệp với hắn đã đặt mình vào sự không hòa hợp với Đức Chúa Trời đến nỗi sự hiện diện của Ngài đối với họ là ngọn lửa thiêu hủy. Vinh quang của Đấng “là sự yêu thương” sẽ hủy diệt họ. Vào lúc bắt đầu cuộc đấu tranh vĩ đại, các thiên sứ đã không hiểu điều này …

“Nhưng không phải như vậy khi cuộc đấu tranh vĩ đại kết thúc. Khi đó, kế hoạch cứu chuộc đã hoàn tất, bản chất của Đức Chúa Trời được tiết lộ cho tất cả các tạo vật nào đã được dựng nên có trí hiểu biết…

“Và rồi, các thiên sứ vui mừng khi nhìn lên thập tự giá của Đấng Cứu Thế… Chính Đấng Christ đã hiểu đầy đủ kết quả của sự hy sinh được thực hiện trên đồi

Gô-gô-tha. Ngài đã hướng đến tất cả những điều này khi trên thập tự giá, Ngài kêu lên: ‘Mọi sự đã hoàn tất.’”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 760–764.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:  “Nếu một người chỉ đơn thuần là một con người, và nói những điều mà Đức Chúa Giê-su đã nói, thì anh ta không phải là một vị giảng sư vĩ đại thuyết giảng đạo lý. Người đó hoặc là một kẻ điên mất trí hoặc anh ta là Sa-tan của Địa ngục. Bạn phải đưa ra lựa chọn của mình. Hoặc là nhân vật này đích thực là Con của Đức Chúa Trời: hoặc là một kẻ điên loạn. Bạn có thể bắt Người ấy phải câm miệng vì Người là một kẻ ngu dại; bạn có thể khạc nhổ vào Người và giết Người như một con quỷ; hoặc bạn có thể quỳ dưới chân Người và gọi Ngài là Chúa và là Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đừng đưa ra bất kỳ điều vô nghĩa nào cho rằng Ngài chỉ là một người thầy vĩ đại. Ngài không mời gọi chúng ta làm điều đó và cũng không có ý định làm vậy.”— CS Lewis, Mere Christianity (New York, Collier Books, 1952), tr. 41.

“Đức Chúa Cha là sự đầy dẫy của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, và Ngài thì vô hình với mắt phàm.

“Đức Chúa Con là toàn bộ sự đầy dẫy của Ba Ngôi Đức Chúa Trời được biểu lộ. Lời Đức Chúa Trời tuyên bố Ngài là ‘hình ảnh rõ ràng của ngôi vị Ngài.’”—Ellen G. White, Evangelism, tr. 614.

“Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời tự hữu, hiện hữu từ trước … Khi nói về sự hiện hữu từ trước của mình, Đấng Christ đưa tâm trí [chúng ta] qua các thời đại vô hạn. Ngài đoan chắc với chúng ta rằng chưa bao giờ có thời điểm nào mà Ngài không ở trong mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời hằng hữu …

“Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, vô hạn và toàn năng … Ngài là Con đời đời và tự hữu.”—Ellen G. White, Evangelism, tr. 615.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hãy tập trung nhiều hơn vào câu hỏi về thần tính đời đời của Đức Chúa Giê-su. Hãy suy nghĩ về toàn bộ kế hoạch cứu rỗi và ý nghĩa của sự hy sinh trên thập tự giá và Đức Chúa Giê-su chỉ có thể là Đức Chúa Trời hằng hữu, Đấng chưa bao giờ được tạo ra nhưng luôn luôn đã hiện hữu. Tại sao chân lý ấy lại quan trọng như vậy? Trong lớp, hãy nói về ý nghĩa của điều: nếu, trên thực tế, Đức Chúa Giê-su không phải là Đấng hằng hữu mà (theo một cách nào đó), Ngài cũng là vật thọ tạo. Nếu thế thì điều gì bị mất trong kiểu suy nghĩ đó?
  2. Khi chúng ta nghĩ về Đức Chúa Giê-su, phúc âm và kế hoạch cứu rỗi, tại sao chúng ta cũng cần phải giữ khái niệm về sự tham gia và mối quan tâm của toàn vũ trụ vào những gì Đức Chúa Giê-su đã làm? Khi các thiên sứ trên trời và toàn vũ trụ nhìn thấy Đấng Tạo Hóa của họ, Đấng hằng hữu phải gục đầu chết trên thập tự giá. Đó là một điều thật kinh ngạc, nhưng vũ trụ không sa ngã [như loài người] luôn biết Ngài trong sự vinh quang đời đời của Ngài, mà nay chứng kiến Đấng họ đã tôn thờ trên thiên đàng phải chết trên thập tự giá, điều gì đã diễn ra trong tâm trí họ?

Bài Học 7, 7- 13 Tháng 2

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Phi-líp 3:17–4:23 , 1 Cô-rinh-tô 15:42–44, Giăng 14:27, Thi thiên 119:165, Gióp 1:21, 1 Ti-mô-thê 6:7.

Câu Gốc:  ‘“Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời”’ (Phi-líp 4:6).

Tất cả chúng ta, vào một thời điểm nào đó, đều tìm thấy những người mà mình ngưỡng mộ và muốn bắt chước theo. Với trẻ em, điều đặc biệt quan trọng là chúng phải có những gương mẫu tốt. Lý tưởng nhất là cha và mẹ của chúng. Khi lớn lên, chúng sẽ tìm thấy những gương mẫu khác, có thể liên quan đến nghề nghiệp mà chúng đã chọn hoặc thậm chí trong những tiểu sử mà chúng đã đọc. Chúng cũng có thể tìm hiểu cách các nhân vật khác nhau trong Kinh ‡ánh đối phó với những thách thức và so sánh các nhân vật ấy với những trải nghiệm sống của chính chúng.

Thật không may, trong phương tiện truyền thông ngày nay, có rất nhiều gương mẫu xấu. Chúng ta bị tấn công bởi những câu chuyện giật gân— những câu chuyện kể chi tiết về các vấn đề vô luân và cuộc sống thác loạn của những người nổi tiếng. Những độc giả của Phao-lô ở thành Phi-líp, mặc dù không sống trong thời đại của mạng xã hội, nhưng vẫn phải đối mặt với những thách thức tương tự.

Sự thật là, thế giới mà Phao-lô sống rất đồi bại, vô đạo đức và xấu xa, không khác gì thế giới của chúng ta ngày nay. Luôn luôn có—và sẽ luôn có, ít nhất là cho đến tận thế—quá nhiều những điều xấu xa lan tràn khắp nơi. Câu hỏi dành cho chúng ta là: Chúng ta phản ứng với điều đó như thế nào?

Đọc Phi-líp 3:17–19. Những gương tốt và xấu được mô tả như thế nào trong phần Kinh thánh này? Những chìa khóa nào được đưa ra để phân biệt chúng với nhau?

Chúng ta không được quên tấm lòng thương mến của Phao-lô đối với những người mà ông bất đồng ý kiến—ông khóc thương họ! Cũng lưu ý rằng ông không gọi họ là kẻ thù của mình mà là “kẻ thù của thập tự giá của Đấng Christ” (Phi-líp 3:18). Phao-lô nhận ra rằng có nhiều vấn đề lớn hơn đang bị đe dọa, cụ thể là, thập tự giá phá vỡ các rào cản và đặt tất cả chúng ta vào cùng một cấp độ, như những tội nhân cần một Đấng Cứu Rỗi (xem Ê-phê-sô 2:11–14).

Ngoài ra, không nên bỏ qua cách Phao-lô thúc giục người Phi-líp tập trung vào những tấm gương tốt, chứ không phải những tấm gương xấu; hãy quan sát cẩn thận những người có lối sống giống ông. Điều thú vị là Phao-lô sử dụng ngôn ngữ tương tự khi cảnh báo người La Mã “hãy coi chừng những kẻ gây bè đảng và làm gương xấu, nghịch cùng sự dạy dỗ mà anh em đã nhận. Phải tránh xa họ đi.” (Rô-ma 16:17). Những kẻ lừa dối ở Rô-ma được mô tả là những kẻ “không hầu việc Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng hầu việc cái bụng của mình” (Rô-ma 16:18).

Mặc dù, dĩ nhiên, Đức Chúa Giê-su là mẫu mực hoàn hảo duy nhất, nhưng vẫn có những người khác, ít nhất là trong một số lãnh vực nào đó, có thể là gương mẫu tốt. Đồng thời, qua bạn, người khác nhìn thấy gương mẫu nào?

Đọc Phi-líp 3:20, 21. Phao-lô mô tả tỏ tường thế nào về “quyền công dân” của Cơ Đốc nhân?

Không giống như những kẻ thù của thập tự giá là những kẻ “chỉ tư tưởng về các việc thế gian” và không có chúa nào lớn hơn bụng của họ (Phi-líp 3:19), quyền công dân Cơ Đốc là ở thiên đàng, và đấng tể trị của chúng ta là chính Đức Chúa Giê-su Christ. Để nhấn mạnh điểm này, Phao-lô chỉ rõ nhu cầu “thân thể hèn mạt này của chúng ta” (Phi-líp 3:21), phải chịu bệnh tật, suy yếu và chết chóc, để được biến đổi giống như thân thể phục sinh vinh hiển của Đấng Christ.

Đọc các câu Kinh ‹ánh sau đây và xem trạng thái vinh quang được mô tả như thế nào? Gióp 19: 25-27; Lu-ca 24:39; 1 Cô-rinh-tô 15:42–44; 1 Cô-rinh-tô 15:50–54; Cô-lô-se 3:4.

Cuối cùng, qua Đức Chúa Giê-su, sự chết, “kẻ thù cuối cùng,” sẽ bị hủy diệt (1 Cô-rinh-tô 15:26). Và đó là hy vọng lớn nhất của chúng ta, lời hứa cuối cùng mà chúng ta đã được ban cho trong Đức Chúa Giê-su—không chỉ là sự kết thúc của cái chết mà còn là một thân thể hoàn toàn mới, thậm chí là một “thân thể vinh hiển” (Phi-líp 3:21).

Trong một cuốn sách nói về cách tìm kiếm “sự cứu rỗi” mà không cần đến Chúa, trong đó lập luận một cách khá ngớ ngẩn rằng vượt qua nỗi sợ chết chính là “sự cứu rỗi,” tác giả Luc Ferry thừa nhận rằng Cơ đốc giáo “giúp chúng ta không chỉ vượt qua nỗi sợ chết mà còn đánh bại chính cái chết. Và khi thực hiện điều đó theo khía cạnh bản sắc cá nhân, thay vì ẩn danh hay trừu tượng, có vẻ như đây là cách duy nhất mang lại chiến thắng trọn vẹn thực sự của sự sống đời đời cho cá nhân trước bản chất hay chết của con người. ”—Ferry, A Brief History of ]ought (New York: Harper Collins, 2011, phiên bản Kindle), tr. 90. Một lời thừa nhận khá thú vị, đến từ một người vô thần.

Vì vậy, đối với Phao-lô, quyền công dân thiên đàng của chúng ta bao gồm lời hứa về sự phục sinh và sự sống đời đời trong một sự hiện hữu hoàn toàn mới mà hiện tại chúng ta khó có thể tưởng tượng được.

Tại sao lời hứa về sự sống đời đời lại quan trọng đến vậy đối với tất cả những gì chúng ta tin? ‹ế gian này có thể cung cấp điều gì đáng để đánh đổi những gì Đấng Christ ban cho chúng ta?

Đọc Phi-líp 4:4–7. Làm thế nào chúng ta có thể trải nghiệm “sự bình an của Đức Chúa Trời”?

Sau khi đề cập một lần nữa đến nhu cầu về sự hiệp nhất (Phi-líp 4:1–3), Phao-lô chuyển sang chủ đề khác: vui mừng trong Chúa (Phi-líp 4:4–7).

Bạn đã bao nhiêu lần căng thẳng vì những thứ cuối cùng tan biến dễ dàng nhanh như lúc chúng xuất hiện? Vì lý do chính đáng, Đức Chúa Giê- su đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chúng ta không nên lo lắng (xem Ma-thi-ơ 6:25–34, Ma-thi-ơ 10:19), và Phi-e-rơ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có thể trao mọi nỗi lo lắng hoặc băn khoăn của mình cho Chúa, “vì Ngài chăm sóc anh em” (1 Phi-e-rơ 5:7). Trên thực tế, những rắc rối ngày càng gia tăng trên toàn thế giới là điều thôi thúc chúng ta với hy vọng rằng sự tái lâm của Chúa đã gần (so sánh Ma-thi-ơ 24:33, Lu-ca 21:28, Gia-cơ 5:8).

Thuốc giải cho sự lo lắng về mọi thứ, trong mọi tình huống, là dâng lên lời cầu nguyện bởi đức tin (Phi-líp 4:6, 7). Rõ ràng, chúng ta phải tin và hành động theo lời cầu nguyện của mình như thể chúng đã được đáp lời, ngay cả trước khi chúng ta thấy lời cầu nguyện đó được ứng nghiệm, bởi vì chúng ta phải cầu nguyện “với lòng biết ơn.” Ngoài ra còn có từ “nài xin,” báo hiệu những lúc cực kỳ khẩn cấp (xem Lu-ca 1:13, Phi-líp 1:19, 1 Ti-mô-thê 5:5, Gia-cơ 5:16). Lời cầu nguyện của chúng ta vẫn là “lời thỉnh cầu,” nhưng chúng ta có thể biết rằng lời thỉnh cầu của mình đã được chấp nhận miễn là chúng ta cầu xin “theo ý muốn của Ngài” (1 Giăng 5:14). Khi đó, chúng ta có thể nghỉ ngơi và bình an, biết rằng mọi lời thỉnh cầu của chúng ta đều nằm trong tay Chúa.

Những câu Kinh Thánh sau đây mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về sự bình an của Đức Chúa Trời như thế nào? Thi thiên 29:11, Ê-sai 9:6 , Lu-ca 2:14, Giăng 14:27, 1 Cô-rinh-tô 14:33.

Sự bình an của Chúa là điều mà thế gian không bao giờ có thể ban cho, vì sự bình an của Chúa đến từ sự bảo đảm rằng chúng ta có món quà là sự sống đời đời qua Đức Chúa Giê-su, Cứu Chúa của chúng ta (Rô-ma 5:1, Rô-ma 6:23). Sự bình an này tác động đến mọi khía cạnh của cuộc sống và “vượt quá mọi sự hiểu biết” (Phi-líp 4:7). Là sự bình an mà không thể chỉ được nắm bắt bằng trí tuệ mà thôi.

Bạn sẽ mô tả thế nào với người khác về ý nghĩa của việc trải nghiệm “sự bình an của Chúa”?

Sự bình an vượt quá sự hiểu biết cũng sẽ “bảo vệ lòng và trí anh em qua Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 4:7). Đời sống bên trong của chúng ta cần được bảo vệ. Điều thú vị là Phi-líp 4:7 sử dụng phép ẩn dụ quân sự liên quan đến sự bình an của Đức Chúa Trời. Động từ tiếng Hy Lạp (phroureō) được dùng để mô tả một đội quân đồn trú bảo vệ một thành phố chống lại sự xâm lược (2 Cô-rinh-tô 11:32; so sánh Công vụ 9:24).

Một khía cạnh rất quan trọng khác của sự bình an nội tâm liên quan đến việc sống hòa hợp với ý muốn của Chúa. “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã” (]i thiên 119:165).

Đọc Phi-líp 4:8, 9. Những hành động cụ thể nào được thúc giục ở đây?

Phao-lô giới thiệu Phi-líp 4:8,9 với hai chữ “rốt lại” hay “hơn nữa” và liệt kê sáu đức tính, theo sau là bản tóm tắt ngắn gọn về chúng và lời khuyến khích noi theo tấm gương của Phao-lô. Lời khuyên kết thúc mang tính xuyên văn hóa này phù hợp với bối cảnh Hy Lạp-La Mã của Phi-líp, với sự nhấn mạnh kép vào đức hạnh và gương mẫu. Tuy nhiên, điều thật thú vị là, trọng tâm lại là các đức tính trong Kinh ‡ánh, điều này khá rõ ràng khi Phao-lô bỏ qua bốn đức tính chính của Hy Lạp (thận trọng, công bằng, tiết độ và can đảm).

1. Chân thật —không phải ngẫu nhiên, danh sách này bắt đầu với đức tính nền         tảng theo Kinh Thánh là sự chân thật, điều mà Đức Chúa Giê-su (“Quả thật, ta         nói . . .”) và toàn bộ Tân Ước thường nhấn mạnh (xem Công vụ 26:25, Rô-ma           1:18, 1 Cô-rinh-tô 13:6, 2 Cô-rinh-tô 4:2, Ê-phê-sô 4:15, 1 Ti-mô-thê 3:15, Gia-cơ     1:18, 1 Phi-e-rơ 1:22, 1 Giăng 2:21).

2. Cao quý — từ tiếng Hy Lạp dùng để chỉ về đức hạnh của một cá nhân (so sánh      những cách sử dụng khác của nó trong 1 Ti-mô-thê 3:8, 11; Tít 2:2, được dịch là     “tôn kính”).

3. Công bình — đức tính này được định nghĩa bởi bản chất công bình của Đức          Chúa Trời (so sánh cách sử dụng trong Phi-líp 1:7).

4. Tinh khiết — tư tưởng và hành động xuất phát từ sự được Đức Chúa Trời xem        là thanh sạch bởi đức tin (xem 1 Giăng 3:3).

5. Đáng yêu — vẻ đẹp thẩm mỹ, được thấy rất nhiều trong sự sáng tạo của Chúa.

6. Đáng khen —“tử tế, dễ mến và đáng quí”.

Phao-lô đưa ra thêm hai điều kiện nữa, kẻo một ý nghĩa ngoại giáo được gán cho bất kỳ đức tính nào trong số này: “nếu có điều gì tốt lành hay đáng khen” (Phi-líp 4:8), chúng ta phải nghĩ về những đức tính thiên thượng này. Sau đó, để xóa bỏ mọi nghi ngờ và hiểu lầm có thể có, Phao-lô kêu gọi chúng ta thực hành những gì chúng ta đã học, tiếp nhận, nghe và thấy từ chính tấm gương của ông (Phi-líp 4:9).

Đọc Phi-líp 4:10–13, 19. Phao-lô tiết lộ bí quyết nào để có một cuộc sống thỏa lòng và hạnh phúc?

Khi những hoàn cảnh cực đoan xảy ra (đói khát, bệnh tật, thương tích, mất mát), người ta bắt đầu suy gẫm về những điều thực sự quan trọng và ngẫm nghĩ về những ơn phước thường bị coi là điều hiển nhiên. Khi chúng ta “nghèo hèn” (Phi-líp 4:12), “thiếu thốn”, hoặc “gần như không có gì” là lúc đức tin được trỗi dậy để đáp ứng hoàn cảnh đó.

Ngược lại, khi chúng ta “sống trong thịnh vượng,” chúng ta phải luôn nhận thức rằng sự thịnh vượng đó có thể biến mất trong chốc lát (xem Châm ngôn 23:5). Cả Gióp và Phao-lô đều nhắc nhở chúng ta, chúng ta không mang gì vào thế gian khi chào đời, và chúng ta sẽ không mang gì theo khi xuống mồ (Gióp 1:21, 1 Ti-mô-thê 6:7).

Hãy lưu ý những lời hứa sau đây trong Kinh Thánh:

• Thii thiên 23:1—“Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi; tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.”

• Ma-thi-ơ 6:32—“Cha các ngươi ở trên trời vốn biết rằng các ngươi cần dùng những điều đó rồi.”

• 1 Phi-e-rơ 5:7—“Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em.”

• Phi-líp 4:19—“Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ.”

Và, điều tuyệt vời nhất trong tất cả: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:13). Có lẽ không ai trong chúng ta có thể hiểu đầy đủ “mọi sự” bao hàm điều gì. Chắc chắn, giống như bất kỳ lời cầu xin nào về sự giúp đỡ và sức mạnh của Chúa, chúng ta phải cầu xin theo ý muốn của Ngài. Nhưng nhiều lần, chúng ta thậm chí không cầu xin những điều mà chúng ta biết là phù hợp với ý muốn của Ngài. Đó là lý do tại sao Gia-cơ 4:2 nói rằng, “Anh em chẳng được chi, vì không cầu xin.”

Sau đây là một số điều chúng ta có thể vững lòng cầu xin, vì biết rằng chúng phù hợp với ý muốn của Chúa:

• Sự cứu rỗi cho người thân hoặc bạn bè (1 Ti-mô-thê 2:3, 4)

• Sự can đảm chia sẻ đức tin của chúng ta (Khải huyền 22:17)

• Sự tha thứ khi chúng ta xưng tội và từ bỏ điều sai trái (1 Giăng 1:9)

• Sức mạnh để vâng giữ các điều răn của Chúa (Hê-bơ-rơ 13:20, 21)

• Lòng yêu thương cho những người ghét và ngược đãi chúng ta (Mat.5:44)

• Sự khôn ngoan cho những tình huống khó khăn (Gia-cơ 1:5)

• Sự thông hiểu được lẽ thật trong Lời Chúa (Giăng 8:32)

Bạn sẽ giải quyết thế nào với những điều bạn cầu nguyện nhưng vẫn chưa xảy ra hoặc có thể sẽ không bao giờ xảy ra?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Chỉ những ai liên tục nhận được nguồn cung cấp mới của ân điển thì mới có được sức mạnh tương xứng với nhu cầu hằng ngày của họ và khả năng sử dụng sức mạnh đó. ‡ay vì mong đợi một thời điểm nào đó trong tương lai, qua một sự ban cho đặc biệt về sức mạnh thuộc linh mà họ sẽ nhận được sự phù hợp kỳ diệu để chinh phục linh hồn, thì họ nên đầu phục Chúa hằng ngày, để Ngài có thể biến họ thành những công cụ thích hợp cho Ngài sử dụng. Mỗi ngày, họ tiếp tục cải thiện các cơ hội phục vụ nằm trong tầm với của họ. Mỗi ngày, họ làm chứng cho Chúa ở bất cứ nơi nào họ có thể, cho dù trong một việc lao động khiêm nhường nào đó trong gia đình, hay trong một lĩnh vực công cộng hữu ích.

“Đối với người làm việc hết lòng, họ có một niềm an ủi tuyệt vời khi biết rằng ngay cả Đấng Christ, trong suốt cuộc đời trên đất, Ngài cũng đã tìm kiếm Cha Ngài hằng ngày để được cung cấp thêm ân điển cần thiết; và từ sự hiệp thông này với Đức Chúa Trời, Ngài đã tiến bước để củng cố và ban phước cho người khác …

“Mỗi công nhân của Chúa là những người noi theo gương của Đấng Christ, sẽ được chuẩn bị để tiếp nhận và sử dụng quyền năng mà Đức Chúa Trời đã hứa với hội thánh của Ngài để sẳn sàng cho mùa gặt đang chín tới trên đất.”—Ellen G. White, God’s Amazing Grace, tr. 117.

“Đức Chúa Trời biết mọi nhu cầu của chúng ta và đã cung cấp cho chúng ta. Chúa có cả một kho tàng vật dụng cho con cái của Ngài và có thể cung cấp cho họ những gì họ cần trong mọi hoàn cảnh. Vậy tại sao chúng ta không tin cậy Ngài? Ngài đã hứa những lời quý báu với con cái của Ngài với điều kiện là phải trung thành vâng theo những luật lệ của Ngài. Không có gánh nặng nào mà Ngài không thể cất đi, không có bóng tối nào mà Ngài không thể xua tan, không có sự yếu đuối nào mà Ngài không thể biến thành sức mạnh, không có nỗi sợ hãi nào mà Ngài không thể xoa dịu, không có khát vọng xứng đáng nào mà Ngài không thể hướng dẫn và làm cho thành tựu.

“Chúng ta không nên nhìn vào chính mình. Càng đắm chìm vào những khiếm khuyết của bản thân, chúng ta càng ít sức mạnh để vượt qua chúng.”— Ellen G. White, ]at I May Know Him, tr. 224.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hãy nghĩ đến một số trường hợp sáng giá nhất của bạn về lời cầu nguyện được đáp ứng. Chúng đã giúp bạn trải nghiệm sự bình an của Chúa vượt quá sự hiểu biết như thế nào? Còn những lời cầu nguyện không được đáp ứng thì sao? Làm thế nào bạn vẫn có thể trải nghiệm sự bình an đã hứa?
  2. Trong bối cảnh của Phi-líp 4:8, bạn dành thời gian suy nghĩ về điều gì? Những gì bạn suy nghĩ củng cố đức tin của bạn và bước đi với Chúa tốt như thế nào?
  3.  Thảo luận về trích dẫn cuối cùng ở trên. Ý nghĩa của câu nói “Chúng ta càng đắm chìm vào những khiếm khuyết của bản thân, chúng ta càng ít sức mạnh để vượt qua chúng” là gì? Vậy thì chìa khóa để vượt qua là gì?

 Chỉ Tin Cậy Nơi Đấng Christ

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Phi-líp 3:1–16; Rô-ma 2:25–29; Giăng 9:1–39; Ê-phê-sô 1:4, 10; 1 Cô-rinh-tô 9:24–27.

Câu Gốc: “’Cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết”’ (Phi-líp 3:10, 11).

Đọc Phi-líp 3:1–3. Phao-lô đưa ra những điểm tích cực và tiêu cực nào ở đây, và chúng liên quan như thế nào? Ông mô tả các tín đồ ra sao?

Phao-lô bắt đầu với một điểm rất tích cực và nghe giống như ông đang kết thúc bức thư của mình. Nhưng chưa vội. Ông quay trở lại một trong những chủ đề chính của bức thư này: vui mừng trong Chúa. Và ông sẽ đưa ra một số lý do cho việc đó. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải tin cậy nơi Đấng Christ, chứ không phải nơi chính mình: “Chúng ta… khoe mình trong Đấng Christ, và không để lòng tin cậy vào xác thịt” (Phi-líp 3:3). Ai trong chúng ta, bằng cách này hay cách khác, đã học được bài học đắt giá về việc đặt lòng tin cậy nơi xác thịt?

Lời cảnh báo mạnh mẽ “Hãy coi chừng” (ba lần) không được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trong Kinh Thánh. Rõ ràng, người Phi-líp biết rất rõ mối đe dọa mà Phao-lô đang ám chỉ. Lời cảnh báo không phải cho ba vấn đề khác nhau, mà dường như nói về một nhóm giáo sư giả được mô tả theo ba cách khác nhau.

Những người gian ác hoặc vô đạo ở Y-sơ-ra-ên đôi khi bị gọi là “chó”

(Phi-líp 3:2; so sánh Thi thiên 22:16; Ê-sai 56:10; Ma-thi-ơ 7:6; 2 Phi-e-rơ 2:21, 22). Giáo sư giả cũng có thể được mô tả một cách chính xác là “những kẻ làm công gian ác.” Việc gọi họ là “kẻ cắt bì” (Phi-líp 3:2) hoặc “những kẻ cắt bì giả” cho thấy, giống như ở Ga-la-ti và các địa phương khác, họ đang tìm cách ép buộc phép cắt bì lên các tín đồ Ngoại, trái với phán quyết của Hội đồng Sứ đồ (xem Công vụ 15).

Điều đáng để ý là một giải pháp cho những thách thức thuộc linh, gồm cả sự lan truyền của những giáo lý sai lầm, là “hãy vui mừng trong Chúa”

(Phi-líp 3:1; so sánh Phi-líp 4:4).

Bất cứ điều gì chúng ta vui mừng đều mang lại cho chúng ta niềm vui. Đức Chúa Trời muốn chúng ta vui mừng, và Lời Ngài là một loại cẩm nang cho hạnh phúc chân thực và niềm vui dài lâu. Sự vui mừng bao gồm việc nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời (Thi thiên 31:7); đặt niềm tin nơi Ngài (Thi thiên 5:11); nhận được phước lành của sự cứu rỗi (Thi thiên 9:14); áp dụng luật pháp của Chúa làm lối sống của chúng ta (Thi thiên 19:14), kể cả ngày Sa-bát (Ê-sai 58:13, 14); tin Lời Ngài (Thi thiên 119:162); và nuôi dạy con cái tin kính (Châm ngôn 23:24, 25).

Cuộc sống có thể rất khó khăn đối với tất cả chúng ta, bất kể mọi điều xem ra tốt đẹp lúc này. Nhưng dẫu cho đời sống khó khăn đến đâu, chúng ta vẫn có thể và nên vui mừng về những gì? Điều gì ngăn cản bạn vui mừng?

Trải nghiệm chung cho những người quy đạo theo Cơ Đốc giáo là họ thường nghĩ về cuộc đời mình như có hai giai đoạn, trước và sau khi họ tiếp nhận Đức Chúa Giê-su—giống như Phao-lô đã kể lại trong Phi-líp 3. Tuy nhiên, dầu đúng hay sai, đôi khi chúng ta công nhận có những người tuy không phải là Cơ Đốc nhân nhưng là “người tốt,” và nếu theo tiêu chuẩn của thế gian, nhiều người thực sự quả là tốt. Ngược lại, so với tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, không ai là tốt, ngay cả Cơ Đốc nhân.

Trong Phi-líp 3:4–6, Phao-lô kể ra nhiều điều trong đời quá khứ mà ông đã từng tự hào. Điều gì vậy? Phần bạn sẽ mô tả những điều “tốt” trong cuộc đời của chính bạn (quá khứ và hiện tại) ra sao?

Phao lô cho thấy sự tương phản giữa các tín đồ Do Thái truyền bá giáo lý sai lầm và những tín đồ không cắt bì, những người tin cậy vào Đấng Christ để được cứu rỗi chớ không đặt niềm tin vào những việc làm của người như phép cắt bì (xem Hê 6:1, Hê 9:14; so sánh với Rô-ma 2:25–29). Mặc dù đời sống và gia thế trong quá khứ của Phao-lô hẳn đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với những người Do Thái đồng hương, nhưng chẳng có điều nào trong ấy góp phần vào sự cứu rỗi của ông. Trái lại, chúng thực sự đã cản trở sự cứu rỗi bởi vì chúng đã làm ông mù quáng trong một thời gian, không thấy được nhu cầu mình nơi Đấng Christ.

Phao-lô không những được cắt bì—mà còn cắt bì vào ngày thứ tám, nghĩa là ông là một người Y-sơ-ra-ên chính thống và thuộc về dân giao ước. Hơn nữa, ông xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, chi phái này có lãnh thổ bao gồm một số thành phố quan trọng nhất của Y-sơ-ra-ên. Phao-lô không những biết tiếng Hê-bơ-rơ mà còn là học trò của Trưởng Lão Ga-ma-li-ên (Công vụ 22:3, Công vụ 26:4, 5) và là một người Pha-ri-si, ông chắc chắn đã thấm nhuần kiến thức và cách áp dụng luật pháp, ít nhất là theo truyền thống.

Phao-lô sốt sắng với luật pháp đến nỗi ông đã bắt bớ hội thánh vì cho rằng hội thánh đe dọa nếp sống Do Thái, mà ông cho là đã được luật pháp quy định. Điều đáng nói là, mặc dù “không chỗ trách được” về “sự công bình” do người tạo ra, Phao-lô đã ý thức được rằng luật pháp thực sự sâu sắc và khắt khe hơn ông có thể tưởng tượng, và nếu không có Đấng Christ, ông sẽ bị nó buộc tội.

So sánh Rô-ma 7:7–12 với Ma-thi-ơ 5:21, 22, 27, 28. Điểm then chốt nào về luật pháp đã được Đức Chúa Giê-su và Phao-lô nêu ra, và tại sao “đức tin nơi Đấng Christ” (Phi-líp 3:9), chứ không phải luật pháp, là nguồn duy nhất của sự công bình?

Như bài học hôm qua nêu lên, những điều trước đây khiến Phao-lô tự hào thực ra lại là những chướng ngại vật cho đức tin, vì chúng đã che mắt ông trước nhu cầu về

Đấng Christ. Phao-lô dùng ngôn ngữ thương mại, lời lỗ, để mô tả “sổ kế toán thuộc linh” của mình trước khi có đức tin. Chúng ta mỗi người đều có một “sổ kế toán thuộc linh.” Trước đây, sổ của Phao-lô được đo lường bằng các giá trị Do Thái giáo thời bấy giờ thay vì các giá trị Kinh Thánh như Đức Chúa Giê-su đã dạy.

Sau khi quy đạo, sổ kế toán thuộc linh của ông trông rất khác vì cán cân giá trị của nó đã thay đổi đáng kể, từ “đơn vị giá trị” của Do Thái giáo sang “đơn vị giá trị của thiên đàng.”

“Đấng từ trời xuống có thể nói về trời, và trình bày một cách chính xác những điều tạo nên đơn vị giá trị của trời, trên đó Ngài đã đóng dấu hình ảnh và danh hiệu của Ngài. Ngài biết mối nguy hiểm cho những người mà Ngài đến để kéo họ khỏi sự thấp hèn, và nâng họ lên cao đến một vị trí bên cạnh Ngài trên ngai. Ngài chỉ ra mối nguy hiểm của họ khi họ dành tình cảm cho những thứ vô ích và nguy hiểm. Ngài tìm cách kéo tâm trí khỏi những điều trần tục để hướng về thiên đàng, để chúng ta không lãng phí thời gian, tài năng và cơ hội vào những thứ hoàn toàn phù phiếm.”—Ellen G. White, trong The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 1 tháng 7 năm 1890.

Trong thế giới Do Thái giáo vào thế kỷ thứ nhất, Phao-lô là một ngôi sao đang lên cho đến khi ông bị mù bởi nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Giê- su vinh hiển trên đường đến Đa-mách (Công vụ 9), và thị lực thuộc linh của ông được chữa lành, ông nhìn thấy rõ ràng.

Giăng 9 kể về một người đàn ông khác cũng bị mù và sau đó đã nhìn thấy Đức Chúa Giê-su rõ ràng. Chúa Giê-su phán rằng Ngài đến thế gian để “khiến cho người mù được thấy, còn những kẻ thấy thì trở nên mù” (Giăng 9:39). Nguyên tắc này có thể được áp dụng vào cuộc sống của chúng ta ra sao?

Chẳng gì có thể có giá trị hơn sự sống đời đời trên thiên đàng và trên đất mới. Tuy nhiên, những giá trị trần tục đã làm nhiều người mù quáng trước thực tế này. Có một sự cạnh tranh cố hữu giữa những điều được coi trọng ở trên đất (xem Ma-thi-ơ 13:22; Lu-ca 4:5, 6; 1 Giăng 2:16) và những điều coi trọng trên trời: đó là sự giống như Đấng Christ và những linh hồn được cứu.

Thế gian có thể làm chúng ta mù mờ trước những lẽ thật thuộc linh và những điều thực sự quan trọng. Bí quyết để giữ cho mắt chúng ta tập trung vào những điều thực sự quan trọng là gì?

 Điểm chính của Phao-lô phải được chú ý. Ông đã trải qua một cuộc trao đổi diệu kỳ trên đường đến Đa-mách, đánh đổi cuộc sống cũ dựa trên luật pháp để được ở trong sự hiện diện của chính Đấng Christ—“để tôi được Đấng Christ và được ở trong Ngài” (Phi-líp 3:8, 9).

“Ở trong Ngài”, tức là ở trong Đấng Christ, một diễn tả đặc biệt. Đọc Ê-phê-sô 1:4, 2 Cô-rinh-tô 5:21, Cô-lô-se 2:9 và Ga-la-ti 2:20. Dựa trên những câu Kinh Thánh này, bạn nghĩ Phao-lô muốn nói gì?

“Ở trong Đấng Christ” đã được thảo luận rộng rãi. Không có gì ngạc nhiên khi lời giải thích hay nhất về điều này đến từ chính Phao-lô: “Để sự định trước đó trong khi kỳ mãn—hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất” (Ê-phê-sô 1:10). Đó là mục đích của Đức Chúa Trời ngay từ ban đầu. Và Phao-lô giải thích rõ ràng điều đó diễn ra như thế nào: “Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta” (1 Cô-rinh-tô 1:30).

Được “ở trong Đấng Christ” hiểu tất cả mọi điều mà kế hoạch cứu rỗi bao gồm, từ sự khởi đầu của trí tuệ thuộc linh (sự khôn ngoan), đến sự xưng công bình bởi đức tin (sự công bình), đến sự chuẩn bị cho thiên đàng (sự thánh hóa), và cuối cùng là sự vinh hiển trong Ngày Tái Lâm (sự cứu chuộc). Sự cứu rỗi là công trình của Đấng Christ từ đầu đến cuối—cho chúng ta và trong chúng ta. Vì vậy, khi có được Đấng Christ, chúng ta có mọi thứ mình cần.

Đọc Phi-líp 3:9. Phao-lô đối chiếu hai điều nào, và tại sao sự đối chiếu này lại quan trọng để luôn ghi nhớ?

Như Phao-lô đã ý thức được, việc có “sự công bình của riêng mình” không phải là sự công bình thật bởi vì luật pháp không thể ban sự sống (xem Ga-la-ti 3:21, 22); chỉ có Đấng Christ mới có thể, qua đức tin. Và không phải bất kỳ đức tin nào cũng vậy. Suy cho cùng, ma quỷ cũng tin và run sợ (Gia-cơ 2:19). Đức tin cứu rỗi duy nhất là “đức tin của Đấng Christ.” Chỉ có đức tin của Ngài đã vâng phục trọn vẹn và có thể vâng phục. Vì vậy, nếu chúng ta ở trong Đấng Christ và Ngài sống trong chúng ta (Ga-la-ti 2:20), thì chúng ta sống bởi đức tin của Ngài qua đức tin của chúng ta nơi Ngài.

Đọc Phi-líp 3:10–16. Phao-lô nêu ra một số điểm chính nào trong đoạn Kinh Thánh này?

Chắc chắn không có gì quan trọng hơn việc biết Đấng Christ, điều sẽ đảm bảo rằng cuối cùng Ngài sẽ biết chúng ta và công nhận chúng ta trước mặt Cha (xem Ma-thi-ơ 7:21–23; Ma-thi-ơ 10:32, 33). Chúng ta biết Ngài ra sao? Qua Lời Ngài được viết ra—đọc và sống theo Lời ấy. Chúng ta không thể biết Ngài mặt đối mặt như các môn đồ. Nhưng dầu vậy, họ vẫn không thể hiểu được lời Ngài. Điều này nhấn mạnh rằng chúng ta cần Đức Thánh Linh dẫn dắt (Giăng 16:13). Càng biết Ngài, chúng ta càng đến gần Ngài hơn, bởi vì chúng ta sẽ kinh nghiệm được “quyền năng của sự phục sinh của Ngài” (Philíp 3:10), điều nâng chúng ta đến “một đời sống mới” (Rô-ma 6:4).

Một cách khác để chúng ta đến gần Đức Chúa Giê-su hơn là qua “sự thông công trong sự đau khổ của Ngài” (Phi-líp 3:10). Mỗi thử thách phải đối mặt, mỗi kinh nghiệm đau thương phải mang lấy, sẽ giúp chúng ta hiểu biết hơn và trân trọng hơn những gì Chúa Giê-su đã trải qua vì chúng ta, và đồng thời chúng ta hiểu Ngài và ý muốn của Ngài rõ ràng hơn.

Cách thứ ba để chúng ta đến gần hơn là tiến tới “mục tiêu” (Phi-líp 3:14). Mục tiêu đó là gì? Từ này được dịch từ một từ chỉ được sử dụng ở đây trong Tân Ước (skopos). Nó ám chỉ đến đích của một cuộc đua và phần thưởng được trao cho người chiến thắng. Phao-lô gọi đó là “phần thưởng của sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus” (Phi-líp 3:14). Cũng như Đấng Christ, qua sự chết và sự phục sinh của Ngài, đã thăng thiên lên trời, Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta nhận lãnh cùng một phần thưởng trên trời—sự sống đời đời.

Rõ ràng, chúng ta vẫn chưa đạt được điều đó. Chúng ta sẽ không được hoàn thiện cách vẹn toàn nhất cho đến khi “thân thể hèn mọn” của chúng ta được biến đổi “để trở nên giống như thân thể vinh hiển của Ngài” (Phi-líp 3:21). Nhưng bằng cách nhận biết Ngài và mời Ngài hiện diện trong đời sống chúng ta mỗi ngày, chúng ta tiến tới mục tiêu trở nên giống Chúa Giê-su trong mọi cách có thể ngay bây giờ. Đây cũng là “điều duy nhất” mà Phao-lô tập trung vào. Giống như cuộc chạy đua (xem 1 Cô-rinh-tô 9:24–27), chúng ta không quan tâm đến việc mình đang ở đâu hay ai đang theo sau. Chúng ta chỉ tập trung vào những điều phía trước—giải thưởng thiên đàng đang chờ đợi chúng ta. Hình ảnh ở đây thật sống động: một người chạy bộ hoàn toàn tập trung vào mục tiêu, căng hết mọi cơ bắp và choài người về phía trước để đến đích.

Tại sao, trong hành trình theo Chúa, điều quan trọng là không quay nhìn lại phía sau, nhất là nhìn lại tội lỗi và thất bại của mình, mà thay vào đó, luôn nhìn về phía trước, hướng đến những gì bạn đã được hứa ngay lúc này trong Đấng Christ?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Ai muốn xây dựng một tính tình mạnh mẽ, cân đối, ai muốn trở thành một Cơ Đốc nhân quân bình, họ phải dâng hiến tất cả và làm tất cả cho Đấng Christ; vì Đấng Cứu Chuộc không chấp nhận một phục sự nửa vời. Mỗi ngày, họ phải học ý nghĩa của sự phó thác. Họ phải học hỏi lời Chúa, học hỏi ý nghĩa và vâng giữ các giáo huấn của Ngài. Nhờ đó, họ có thể đạt đến tiêu chuẩn của một Cơ Đốc nhân xuất sắc. Mỗi ngày, Đức Chúa Trời cùng làm việc với họ, hoàn thiện đức tính cần có để họ đứng vững trong giai đoạn thử thách cuối cùng. Và ngày qua ngày, người tín đồ tập luyện trước mặt loài người và thiên sứ một thử nghiệm tuyệt vời, bày tỏ những gì Phúc Âm có thể làm được cho loài người sa ngã.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 483.

“Những ai chờ đợi Chú Rể đến phải nói với dân chúng: ‘Kìa Đức Chúa Trời của các ngươi.’ Những tia cuối cùng của ánh sáng thương xót—sứ điệp cuối cùng của thương xót được ban cho thế gian—là sự mặc khải về bản chất yêu thương của Ngài. Con cái Đức Chúa Trời phải biểu lộ vinh quang của Ngài. Trong đời sống và đức tính của mình, họ phải bày tỏ những gì ân điển của Đức Chúa Trời đã làm cho họ.

“Ánh sáng của Mặt Trời Công Chính phải chiếu sáng qua những việc lành—bằng lời của lẽ thật, và việc làm thánh khiết.”—Ellen G. White, Christ’s Object Lesons, tr. 415, 416.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Suy ngẫm thêm về câu hỏi hãy vui mừng trong Chúa. Lưu ý rằng câu này không nói đến việc vui mừng trong những thử thách (mặc dù điều đó cũng đúng với Kinh Thánh) mà là vui mừng trong Chúa. Tại sao việc chúng ta luôn ghi nhớ Chúa, lòng nhân từ, quyền năng, tình yêu thương và sự cứu rỗi của Ngài, là quan trọng? Làm điều đó sẽ có lợi lớn cho chúng ta ra sao giữa những thử thách không thể tránh khỏi của cuộc đời?
  2.  Những câu trích dẫn trên mô tả vai trò của ân điển trong việc tạo ra “những việc lành” mà chúng ta, những Cơ Đốc nhân, làm. Tại sao chức năng này của ân điển lại quan trọng đến vậy khi chúng ta đang mong chờ sự tái lâm của Đấng Christ? Nghĩa là, mặc dù chúng ta không được cứu bởi việc lành, nhưng liệu chúng ta có thực sự được cứu nếu không làm việc lành?
  3. Hãy suy ngẫm thêm về ý tưởng không tin cậy vào xác thịt. Điều đó có nghĩa gì? Tại sao chúng ta không nên tin cậy vào nó? Chẳng phải xác thịt của chúng ta là một món quà từ Đức Chúa Trời sao?

Bài Học 5,  24 – 30 Tháng 1

 

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Phi-líp 2:12–30; Rô-ma 3:23, 24; Rô-ma 5:8; 2 Ti-mô-thê 4:6; 1 Cô-rinh-tô 4:17; 2 Ti-mô-thê 4:21, 13; Lu-ca 7:2.

Câu Gốc:  “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự, hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:14, 15).

 

Sau khi mô tả Đức Chúa Giê-su như một tấm gương hoàn hảo về sự khiêm nhường và vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời, Phao-lô hướng đến các tín hữu Phi-líp. Ông khẳng định sự họ vâng phục Chúa sau khi tiếp nhận sứ điệp Phúc Âm (xem Công vụ 16:13–15, 32, 33) và thúc giục họ tiếp tục vâng phục.

Sau khi trình bày tấm gương về cuộc đời của Đấng Christ và thập tự giá là con đường cứu rỗi, Phao-lô bây giờ tập trung trực tiếp vào việc thực hành tất cả những điều này trong thực tế.

Đọc Phi-líp 2:12, 13. Phao-lô có ý gì khi nói: “Hãy càng hơn nữa… làm nên sự cứu chuộc mình”? Bạn có thể mô tả mối quan hệ giữa đức tin và việc làm ra sao?

Trong hai câu này, Phao-lô không đưa ra một phúc âm nào khác với những gì ông đã nêu lên trong thư Rô-ma và các bức thư tín khác. Chúng ta có thể chắc chắn rằng sứ điệp của ông ở đây phù hợp với phúc âm về sự xưng công bởi đức tin, những điều ông cũng đã rao giảng tại Phi-líp và các nơi khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xem xét tất cả những gì Kinh Thánh nói về một chủ đề nhất định, đặc biệt là về chủ đề cứu rỗi, một chủ đề rất dễ bị hiểu lầm.

Đọc Rô-ma 3:23, 24; Rô-ma 5:8; và Ê-phê-sô 2:8–10. Những câu Kinh Thánh này dạy gì về sự cứu rỗi?

Không có gì phải thắc mắc ở đây, sự cứu rỗi là công trình của Đức Chúa Trời, và chúng ta hoàn toàn không thể tự nhận công trạng cho mình. Ngay cả đức tin cũng là một ân tứ, được khích lệ qua công việc của Đức Thánh Linh. Việc làm của chúng ta không thể cứu chúng ta; tuy nhiên, qua sự tái sinh, Đức Chúa Trời tái tạo chúng ta về mặt thuộc linh, giúp chúng ta làm những việc lành. Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta, ban chúng ta sức mạnh ý chí để lựa chọn điều đúng, và chống lại các cám dỗ.

Vì vậy, chúng ta tập luyện những gì Chúa đang làm trong chúng ta, “với lòng sợ sệt run rẩy.” Đó có phải là chúng ta nên sợ sệt sự phán xét của Đức Chúa Trời trên những nỗ lực vâng phục lắm khi yếu ớt của chúng ta? Dĩ nhiên là không. Cụm từ này ám chỉ việc cảm nhận sự hiện diện của Đức Chúa Trời (xem Thi thiên 2:11) và sự cần thiết của việc chúng ta vâng phục Ngài.

Bạn đã trải nghiệm Đấng Christ làm việc trong bạn cách nào? Bản chất sa ngã của chúng ta chống lại những gì Chúa đang làm trong chúng ta ra sao, và làm thế nào chúng ta chống lại sự lôi kéo ấy?

Trong Phi-líp 2:14, Phao-lô thúc giục tín hữu Phi-líp “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự.” Sự hiệp nhất của hội thánh luôn gặp nhiều thách thức nghiêm trọng và khó có thể duy trì nếu không có những nỗ lực đáng kể từ chúng ta. Sự hiệp nhất của hội thánh là kết quả của sự hiệp một với Đấng Christ và sự vâng phục Lời Ngài. Điều đó rất quan trọng cho sự làm chứng của chúng ta, như Phao-lô đã chỉ ra, kêu gọi chúng ta phải “chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:15).

Vào một đêm không trăng, xa ánh đèn đường và ánh sáng chói chang của thành phố, nhiều ngôi sao hiện ra và dường như sáng hơn rất nhiều. Chính sự tương phản tạo nên sự khác biệt. Bầu trời càng đen tối, những vì sao càng nổi bật. Lời chứng của chúng ta cũng vậy. Bóng tối đạo đức xung quanh chúng ta càng lan rộng, thì sự tương phản giữa cuộc sống của những người theo Chúa chân chính và cuộc sống của những người thế gian càng rõ ràng. Vậy nên, điều quan trọng là đừng để ánh sáng nhân tạo của những ý tưởng, áp lực và lề lối thế gian làm lu mờ hoặc biến mất hoàn toàn lời chứng của chúng ta.

Đọc Phi-líp 2:15, 16. Phao-lô mô tả chúng ta, con cái Đức Chúa Trời, phải là người như thế nào và phải làm gì?

“Không tì vết” có nghĩa là “không chỗ trách được.” Từ này đặc biệt được dùng để chỉ Gióp và tính cách không chỗ trách được của ông (xem Gióp 1:1, 8; Gióp 2:3; Gióp 11:4; Gióp 33:9). Trước những cuộc tấn công ác độc mà các nhân chứng của Ngài có thể phải đối mặt, Đức Chúa Giê-su khuyến khích chúng ta hãy “đơn sơ như chim bồ câu” (Ma-thi-ơ 10:16). Tương tự, Phao-lô cũng thúc giục chúng ta “đơn sơ về điều ác” (Rô-ma 16:19). Các kênh truyền thông hiện đại của chúng ta không nói đến những vấn đề như tinh khiết, nâng cao tinh thần hay khích lệ. Trong những lúc như thế này, chúng ta nên theo một quy tắc tuyệt vời từ Đa-vít: “Tôi sẽ chẳng để điều gì đê mạt trước mặt tôi” (Thi thiên 101:3).

Chúng ta đừng bao giờ sợ mình là kẻ dị biệt—đức tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta ngày càng khác biệt. Mục tiêu là “chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:15). Cách duy nhất để làm được điều đó là từ bỏ sự rập khuôn theo thế gian (Rô-ma 12:2) và “giữ vững lời sự sống” (Phi-líp 2:16). Sự lựa chọn của chúng ta sẽ quyết định hoặc chúng ta đang sống và hướng đến “ngày của Đấng Christ” hay là đang “chạy bá vơ” (Phi-líp 2:16; so sánh 1 Cô-rinh-tô 9:24–27).

Nếu cuộc sống của bạn có những khía cạnh mà bạn nghĩ rằng nó “thuộc về thế gian,” làm sao bạn có thể tẩy sạch được chúng?

Đọc Phi-líp 2:17; 2 Ti-mô-thê 4:6; Rô-ma 12:1, 2; và 1 Cô-rinh-tô 11:1. Phao-lô nói gì trong những câu Kinh Thánh này?

Phao-lô trước đây đã bày tỏ sự giằng co đáng ngạc nhiên trong quan điểm rằng ông sống hay chết trong việc phục sự Đấng Christ (Phi-líp 1:20–23). Bây giờ ông lại gợi ý về một điều rất có thể xảy ra là “huyết tôi phải dùng để tưới trên của tế lễ” (Phi-líp 2:17). Hình ảnh này dựa trên tập tục lễ quán thời xưa, gồm việc đổ ra một chất lỏng (như dầu, rượu hoặc nước) để dâng lên Đức Chúa Trời (xem Sáng thế Ký 35:14, Xuất Ê-díp-tô Ký 29:40, 2 Sa-mu-ên 23:15–17). Việc “phí phạm” một chất lỏng quý giá trong một hành động sùng kính có thể gợi cho chúng ta nhớ đến hành động của Ma-ri khi xức lên đầu và chân Chúa Giê-su với “dầu cam tùng rất quí giá” (Mác 14:3–9; Giăng 12:3). Mặc dù không phải là một lễ quán, nhưng rõ ràng nó tượng trưng cho một sự hy sinh lớn lao, một minh họa thích hợp cho sự hy sinh vô hạn của Đấng Christ cho sự cứu rỗi chúng ta.

Nếu Phao-lô bị xử tử vì công việc truyền bá phúc âm, ông sẽ vui mừng vì mạng sống mình được “đổ ra” như một của lễ dâng lên Đức Chúa Trời. Vì lễ quán trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ thường không đứng riêng lẻ mà đi kèm với một của tế lễ (Dân số Ký 15:1–10; Dân số Ký 28:1–15), Phao-lô sẽ xem việc dâng mạng sống mình là sự bổ sung phù hợp cho “sự hy sinh và phục sự” của các tín đồ ở Phi-líp, những người, qua đức tin, đã chọn dâng hiến cuộc đời mình cho Đức Chúa Trời như một “của lễ sống” (Rô-ma 12:1).

Những Cơ Đốc nhân đầu tiên, gồm cả những người ở Phi-líp (Phi-líp 1:27–29), đã tích cực san sẻ đức tin của mình. Họ đi truyền bá phúc âm từ nhà này sang nhà khác (Công vụ 5:42). Họ mở cửa nhà mình cho lớp học Kinh Thánh (Công Vụ 12:12; 1 Cô-rinh-tô 16:19; Cô-lô-se 4:15; Phi-lê-môn 1, 2), và đủ khả năng giải bày những lý lẽ từ Kinh Thánh cho niềm tin của mình (Công vụ 17:11, Công vụ 18:26, 1 Phi-e-rơ 3:15). Những người tiền phong Cơ Đốc Phục Lâm của chúng ta cũng làm như vậy. Thay vì trông đợi vào các mục sư để truyền bá sứ điệp cho hàng xóm, họ chia sẻ đức tin, tổ chức các buổi học Kinh Thánh và chuẩn bị cho mọi người sẵn sàng chịu phép báptêm khi mục sư trở về.

Tóm lại, họ đã hy sinh bản thân rất nhiều, như là một “của lễ sống,” để truyền bá phúc âm. Có thể nào chúng ta lại làm ít hơn?

Việc cuộc đời bạn trở thành một “của lễ sống” có ý nghĩa gi? Bạn đã và sẽ hy sinh bao nhiêu cho vương quốc Đức Chúa Trời, và câu trả lời của bạn cho bạn biết điều gì về chính mình?

Vai trò của Ti-mô-thê như người đồng gửi thư này đã được đề cập trong (Phi-líp 1:1). Giờ đây, Phao-lô cho thêm chi tiết về sự quan trọng của Ti-mô- thê như một người đồng công với mình. Ti-mô-thê được tả như một nhà truyền giáo (2 Ti 4:5), người mà Phao-lô đã phái đến Ma-xê-đoan (1 Tê-salô-ni-ca 3:2; so sánh với Công vụ 18:5, Công vụ 19:22) và cũng đến Cô-rinh-tô nhiều lần (1 Cô-rinh-tô 4:17; 1 Cô-rinh-tô 16:10). Trước đó, anh đã làm việc với Phao-lô và Si-la tại Cô-rinh-tô (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1, 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1) và sau đó, tại Ê-phê-sô (1 Ti-mô-thê 1:2, 3; so sánh với Công vụ 19:22). Phaolô mô tả Ti-mô-thê là người “đồng tâm nhất trí” (Phi-líp 2:20) với mình. Từ Hy Lạp (nghĩa đen là “bình đẳng về tâm hồn”) cho thấy Ti-mô-thê giống Phao-lô về nhiều mặt, kể cả sự tận tụy với Đấng Christ, trong những nỗ lực nhiệt thành của anh về việc truyền bá phúc âm, và đặc biệt là sự quan tâm của anh dành cho người Phi-líp.

Bạn nghĩ tại sao Phao-lô có quan điểm rất khả quan về Ti-mô-thê? Xem Phi-líp 2:19–23; 1 Cô-rinh-tô 4:17; 2 Ti-mô-thê 1:5?

Một đức tính khác của Ti-mô-thê được Phao-lô đề cập đến là “chứng tỏ rất xứng đáng” (Phi-líp 2:22). Từ Hy Lạp này mô tả một người đã được thử thách kỹ lưỡng qua các gian nan (Rô-ma 5:4) và tính tình cũng như chức vụ của người đó đã được chứng minh là chân thật (2 Cô-rinh-tô 2:9; 2 Cô-rinhtô 9:13). Phao-lô biết điều này là đúng vì ông đã được chứng kiến Ti-mô-thê qua những cơ hội làm việc chung.

Chính những trải nghiệm khó khăn trong cuộc sống đã thử thách bản lĩnh của chúng ta và chứng minh con người bên trong. Ellen G. White viết: “Đời sống là sự rèn luyện… Sẽ có những khiêu khích để thử thách tính khí; và bằng cách đối đầu với những thử thách này với tinh thần đúng đắn, các đức tính Cơ Đốc được phát triển. Nếu những tổn thương nhục mạ được chấp nhận một cách nhu mì, nếu những lời lăng mạ được đáp lại bằng những câu trả lời nhẹ nhàng, và những hành động áp bức được đáp lại bằng lòng tốt, thì đây là bằng chứng cho thấy Thánh Linh của Đấng Christ ngự trong lòng chúng ta.”—“Nếu những khó khăn và phiền toái mà chúng ta được kêu gọi để gánh chịu, và nhẫn nại chịu đựng, chúng ta sẽ phát triển tính tình giống Đấng Christ và làm cho Cơ Đốc nhân khác biệt với người thế gian.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 5, tr. 344.

Hãy nghĩ về những khiêu khích, khó khăn và phiền toái mà bạn đã phải đối mặt gần đây. Bạn đã “gánh lấy cách nhu mì ” và “kiên nhẫn chịu đựng”? Bạn có thể làm gì để những trải nghiệm này giúp bạn có kỷ luật hơn?

Đọc Phi-líp 2:25–30. Phao-lô mô tả Ép-ba-phô-đích như thế nào? Thái độ và hành động cụ thể nào của người hầu việc Chúa này bày tỏ đức tính của ông?

Chỉ có bức thư này nhắc đến Ép-pa-phô-đích nhưng qua một vài câu ngắn ngủi chúng ta được biết khá nhiều về ông. Xét theo tên của ông (ám chỉ đến việc thờ nữ thần Aphrodite), ông đã cải đạo từ một tín ngưỡng ngoại giáo. Được gọi là “bạn cùng làm việc” cho thấy ông đã tích cực trong chức vụ, có lẽ đã làm việc cùng Phao-lô tại Phi-líp. Việc gọi ông là “bạn cùng chiến trận” (so sánh Phi-líp 1:27) có lẽ ám chỉ đến sự xung đột mà Ép-paphô-đích đã phải đối mặt trong việc truyền bá phúc âm, thậm chí sẵn sàng liều mạng sống của mình (Phi-líp 2:30).

Với tư cách là “sứ giả” được hội thánh Phi-líp bổ nhiệm, Ê-pa-phô-đích được sai đến để phục vụ và chăm sóc mọi nhu cầu khác của Phao-lô ở trong tù (Phi-líp 2:25). Ông là người được tín hữu tại Phi-líp tin tưởng giao phó tiền bạc cho Phao-lô (Phi-líp 4:18). Những món quà này vô cùng quan trọng vì bất cứ thức ăn, quần áo, chăn màn, hay những thứ cần yếu khác, tù nhân La Mã đều phải tự bỏ tiền ra mua hoặc nhờ gia đình và bạn bè mang đến (so sánh Công vụ 24:23). Gần cuối thời gian bị giam cầm lần thứ hai tại La Mã, Phao-lô đã yêu cầu Ti-mô-thê “cố gắng đến trước mùa đông” và “mang theo chiếc áo choàng” ông để lại ở Trô-ách (2 Ti-mô-thê 4:21, 13). Phao-lô sẽ cần chiếc áo khoác len dày này trong phòng giam bằng đá lạnh lẽo của mình. Cũng chính Ê-pa-phô-đích được giao nhiệm vụ mang bức thư này trở về Phi-líp (xem Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 479).

Có lẽ vì hội thánh Phi-líp có vài vấn đề (xem Bài học 4), Phao-lô nghĩ để Ép-pa-phô-đích trở về sớm hơn dự tính là điều cần thiết, và do đó khuyên bảo tín hữu Phi-líp “hãy vui mừng tiếp đón ông trong Chúa” (Phi-líp 2:29). Phao-lô muốn chắc rằng họ đừng lo lắng về tình trạng của ông trong tù. Ông cũng nhấn mạnh rằng Ép-pa-phô-đích là mẫu người mà các tín hữu phải kính trọng, không phải vì sự giàu có hay địa vị xã hội của họ, mà vì tinh thần hy sinh của họ khi họ theo chân Đức Chúa Giê-su (Phi-líp 2:6–11; so sánh với Lu-ca 22:25–27). Từ Hy Lạp có nghĩa là “trân trọng” hay “vinh dự” chỉ xuất hiện một vài lần trong Tân Ước: cho người đầy tớ mà viên đại đội trưởng “rất quý mến” (Lu-ca 7:2), cho những người “được tôn trọng” và được mời dự tiệc (Lu-ca 14:8), và cho Đức Chúa Giê-su là “đá góc nhà quý giá” (1 Phi-e-rơ 2:4, 6). Ê-pa-phô-đích được xếp vào nhóm đó, hẳn ông phải là một người trung tín.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Người đứng gần với Đấng Christ nhất sẽ là người trên đất này đã thấm nhuần sâu sắc nhất tinh thần yêu thương hy sinh của Ngài,—tình yêu “chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo…chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ” (1 Cô-rinh-tô 13:4, 5),— thứ tình yêu thúc đẩy người môn đồ, cũng như chính Chúa chúng ta, dâng hiến tất cả, sống lao khổ và hy sinh, thậm chí đến chết, để cứu rỗi nhân loại. Tinh thần này đã được thể hiện rõ ràng trong cuộc đời của Phao-lô. Ông nói: ‘đối với tôi, sống là Đấng Christ’ vì đời sống ông đã bày tỏ Đấng Christ cho loài người; ‘và sự chết là điều ích lợi’—điều lợi cho Đấng Christ; chính cái chết sẽ làm sáng tỏ quyền năng ân điển của Ngài, và quy tụ nhiều linh hồn về với Ngài. Ông nói: ‘Đấng Christ sẽ được tôn cao trong thân thể tôi,’ ‘dù sống hay chết.’ Phi-líp 1:21, 20.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 549.

“Thời điểm thử thách sẽ đến với mỗi linh hồn không còn xa nữa. Dấu ấn của con thú sẽ áp đặt trên chúng ta. Những ai đã từng mỗi bước đầu hàng trước những đòi hỏi của thế gian và để phù hợp với các tập tục thế gian sẽ không thấy khó khăn khi đầu hàng trước những quyền lực thế gian, thay vì phải chịu sự chế giễu, sỉ nhục, đe dọa bỏ tù và cái chết. . . .

“Khi vô số anh em giả dối được phân biệt với anh em thật, thì những ai ẩn giấu sẽ lộ diện, và với tiếng reo hò dưới ngọn cờ của Đấng Christ. Những ai từng nhút nhát và thiếu tự tin sẽ công khai tuyên bố mình ủng hộ Đấng Christ và chân lý của Ngài. Những người yếu đuối và do dự nhất trong hội thánh sẽ giống như Đa-vít—sẵn sàng hành động và dám làm. Bóng đêm càng bao phủ dân sự Đức Chúa Trời, thì các vì sao càng sáng chói. Sa-tan sẽ quấy rối dữ dội những người trung tín; nhưng, nhân danh Đức Chúa Giê-su, họ sẽ chiến thắng vẻ vang hơn cả những kẻ chiến thắng.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 5, tr. 81, 82.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hãy suy nghĩ về lời cảnh báo trong đoạn trích dẫn trên về những người “từng mỗi bước đầu hàng những đòi hỏi của thế gian và để phù hợp với các tập tục thế gian.” Chúng có thể gồm những gì? Chúng không những ảnh hưởng đến cá nhân mà còn cho toàn thể hội thánh như thế nào?
  2. Đức Chúa Trời phán: “‘Ai tôn kính Ta, Ta sẽ làm cho được tôn trọng’” (1 Sa-mu-ên 2:30). Chúng ta tôn kính Đức Chúa Trời bằng những cách nào? Có giống như “tôn vinh Ngài” (Khải huyền 14:7) không? Tại sao có hoặc tại sao không?
  3.  Chúng ta nên hiểu khái niệm hãy nỗ lực để nhận được ơn sự cứu rỗi của chính mình ra sao để không rơi vào bẫy của chủ nghĩa pháp lý?

Bài Học 4,  17– 23 Tháng 1

Kinh Thánh Nghiên Cứu:  Phi-líp 2:1–8, Giê-rê-mi 17:9, Phi-líp 4:8, 1 Cô-rinh-tô 8:2, Rô-ma 8:3, Hê-bơ-rơ 2:14–18.

Câu Gốc:  “Anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn” (Phi-líp 2:2).

Đọc Phi-líp 2:1–3. Những yếu tố nào dường như đã đưa đến sự chia rẽ trong hội thánh? Phao-lô đề nghị biện pháp gì để khắc phục?

Chắc hẳn Phao-lô đã vô cùng thất vọng khi thấy hội thánh mà ông đã thành lập và yêu mến nay bị xào xáo bởi sự cạnh tranh, và hao mòn bởi sự bất hòa. Ông dùng ngôn ngữ rất mạnh để mô tả vấn đề. “Tham vọng ích kỷ,” một từ trước đó được dùng trong Phi-líp 1:15, để nói về những đối thủ ích kỷ của Phao-lô ở Rô-ma, những người chỉ muốn quảng bá bản thân thay vì thúc đẩy sự nghiệp của Đấng Christ.

“Tham vọng ích kỷ” nằm trong số các việc làm của xác thịt (Ga-la-ti 5:19- 20) và, như Gia-cơ chỉ ra, “ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác” (Gia-cơ 3:16). “Kiêu ngạo” trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là sự kiêu căng, hay lòng kiêu hãnh rỗng tuếch, cảm giác đầy tự phụ về bản thân. Phao-lô dùng những chữ có ý nghĩa tương tự khi khuyên răn người Ga-la-ti: “Chớ tìm kiếm danh vọng giả dối mà trêu chọc nhau và ghanh ghét nhau” (Ga-la-ti 5:26).

Phao lô liệt kê các biện pháp chỉnh đốn cho các vấn đề này:

1. Sự an ủi trong Đấng Christ. Phao-lô sẽ tiếp tục dùng chính tấm gương của Đấng Christ như một động lực mạnh mẽ.

2. Sự an ủi của tình yêu. Đức Chúa Giê-su bày tỏ tình yêu thiêng liêng và muốn chúng ta “hãy yêu nhau như Ta đã yêu các ngươi” (Giăng 15:12).

3. Sự thông công của Đức Thánh Linh. Sự hiện diện của Đức Thánh Linh tạo nên một mối liên hệ Cơ Đốc gần gũi giống như mối liên hệ đã thấm nhuần trong hội thánh đầu tiên (Công vụ 2:42; so sánh 2 Cô-rinh-tô 13:14).

4. Sự yêu mến (hoặc lòng trắc ẩn). Chúng ta thấy đức tính thiêng liêng này thường được thể hiện trong đời sống của Đấng Christ (xem Mathi-ơ 9:36, 20:34; Mác 1:41) và được mô tả trong các ngụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân từ (Lu-ca 10:33) và người con hoang đàng (Luca 15:20).

5. Lòng thương xót. Phẩm chất này, được làm gương bởi Đức Chúa Giê-su, phải được bày tỏ trong đời sống của những người theo Ngài (Lu-ca 6:36).

6. Đồng tâm, có cùng một tình yêu thương, đồng lòng, đồng tư tưởng. Một bức tranh quá đẹp! Phao-lô không thể nào nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiệp nhất mạnh mẽ hơn nữa. Như ông đã chỉ ra, chúng ta “hãy có đồng một tâm tình như Đấng Chrit đã có” (Phi-líp 2:5).

Phao-lô nhấn mạnh về sự hiệp nhất trong Phi-líp 2:2, diễn tả qua bốn cách khác nhau. Ông cũng tập trung vào tâm trí, suy nghĩ và cảm xúc. Trong khi các nhà lãnh đạo tôn giáo có xu hướng nhấn mạnh vào hành vi bên ngoài, Đức Chúa Giê-su chú tâm vào suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta. Ví dụ, vị quan trẻ tuổi giàu có tuyên bố rằng ông luôn tuân giữ luật pháp. Thế nhưng, bằng cách bảo ông bán tất cả những gì mình có, bố thí cho người nghèo và theo Ngài, Đức Chúa Giê-su đã thử thách sự gắn bó của ông với những thứ trần tục. Ngài cũng phán rằng chính những gì xuất phát từ tấm lòng (hoặc đầu óc) mới làm ô uế một người: “Vì từ trong lòng phát ra những ý tưởng gian ác, những tội giết người, ngoại tình, dâm dục, trộm cắp, làm chứng dối, và lộng ngôn” (Ma-thi-ơ 15:19), và “bởi vì sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” (Ma-thi-ơ 12:34).

Đọc Phi-líp 2:3, 4. Phao-lô thúc giục tín hữu phải có những bước thực tế nào để đạt được sự hiệp nhất trong hội thánh?

Phao-lô vẽ ra một bức tranh về sự khiêm nhường: sự nhún nhường của tâm trí, coi trọng người khác hơn bản thân mình, quan tâm đến lợi ích của người khác chứ không chỉ của riêng mình. Không phải là chuyện dễ làm đâu! Nhưng đây là những nguyên tắc quan trọng chúng ta cần ghi nhớ trong mọi giao tiếp. Trong đàm thoại, chúng ta thường có xu hướng chỉ nói và nghe quan điểm của mình thay vì lắng nghe để hiểu người đối diện đang nói gì và suy xét vấn đề theo quan điểm của họ. Xung đột thường nảy sinh từ những hiểu lầm đơn giản có thể tránh được nếu ai cũng biết lắng nghe. Chúng ta có thể không đồng ý, nhưng lắng nghe và tìm cách hiểu quan điểm của người khác là bước đầu tiên để nuôi dưỡng sự giao tiếp lành mạnh và tin cậy.

Phao-lô khuyên “dùng dây hoà bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh (Ê-phê-sô 4:3). Nếu có xung đột trong hội thánh, Đức Thánh Linh có thể làm dịu cơn giận dữ và đưa chúng ta vào sự hiệp một, tạo ra sự hòa đồng. Cũng trong chương này, Phao-lô nói về “sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 4:13). Hai điều này có liên quan với nhau. Có cùng một đức tin, cùng một sự hiểu biết về Kinh Thánh xuất phát từ việc biết Đấng Christ và những lời dạy của Ngài, là điều thiết yếu cho sự hiệp nhất tồn tại trong vòng chúng ta.

Cái chết nào đối với bản thân sẽ dẫn chúng ta đến chỗ coi trọng người khác hơn chính mình? Làm sao chúng ta có thể làm được điều đó? Mối bang giao của chúng ta sẽ khác biệt thế nào nếu chúng ta đều sống như vậy?

Công nghệ ngày càng phát triển và tiến đến trình độ có thể kết hợp sức mạnh xử lý của máy tính với bộ não con người. Nói cách khác, bằng cách kết nối não người với máy tính, các khoa học gia hy vọng sẽ kích động tư tưởng chúng ta qua máy tính. Mặc dù việc cấy ghép não người có thể đưa đến những kết quả tích cực, chẳng hạn như giúp kiểm soát bệnh động kinh, trầm cảm và Parkinson, nhưng nó cũng có thể bị lạm dụng cách nguy hiểm. Kiểm soát tâm trí không còn là chuyện xa vời.

Tâm trí chúng ta giống như một chiếc máy tính, nhưng siêu hơn nhiều. Luồng thông tin liên tục mà chúng ta tiếp xúc hàng ngày sẽ “lập trình” (program) tâm trí chúng ta, điều kiện hóa tư tưởng và hướng dẫn hành động của chúng ta. Khi chúng ta đắm chìm trong phương tiện truyền thông, đường lối suy nghĩ của thế gian sẽ ghi sâu vào tâm trí và chúng ta bắt đầu suy nghĩ theo chúng. Nó giống như tâm trí của một người khác đã được cấy ghép hoặc quyện nhập vào tâm trí chúng ta.

Chúng ta phải “chăm những sự thuộc về Thánh Linh” (Rô-ma 8:6) như Đức Chúa Giê-su. “Nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời” được Phao-lô đối chiếu với “thần của thế gian” (1 Cô-rinh-tô 2:11, 12). Vậy, ai là thầy của chúng ta? Và chúng ta học gì?

Đọc Phi-líp 2:5. “Có đồng một tâm tình (trí) như Đấng Christ ” có nghĩa gì?

Chúng ta, cuối cùng, có thể thay đổi tâm trí, nhưng không thể thay đổi tấm lòng; chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm việc ấy. Đức Thánh Linh cần thực hiện phẫu thuật tấm lòng chúng ta, vung “thanh gươm của Đức Thánh Linh” (Ê-phê-sô 6:17), lời “sống động và mạnh mẽ” của Đức Chúa Trời, “xuyên thấu đến nỗi phân chia hồn và linh, khớp và tủy, phán đoán các tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12). Chỉ qua Đức Thánh Linh, chúng ta mới có thể thực sự biết chính mình vì, theo bản chất, chính tấm lòng của chúng ta đã lừa dối chúng ta (Giê-rê-mi 17:9). Từ tiếng Do Thái có nghĩa là “dối trá” (‘aqov) ám chỉ đến mặt đất gồ ghề khiến chúng ta vấp ngã; hay nói rộng hơn, nó có nghĩa là những suy nghĩ dày vò, méo mó, và lệch lạc. Chúng ta phải được biến đổi bằng cách “đổi mới” tâm trí mình để có thể “phân biệt đâu là ý muốn tốt đẹp, vừa lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:2).

Tại sao việc chúng ta làm theo những gì Phao-lô viết sau đây là quan trọng: “Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều gì có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (Phi-líp 4:8)?

Muhammad Ali có lần đã nói, “Tôi là người vĩ đại nhất.” Ali, chắc chắn là một lực sĩ vĩ đại, nhưng ông không phải là tấm gương để noi theo nếu chúng ta muốn có tâm trí của Đấng Christ.

Ngược lại, Đức Chúa Giê-su hoàn toàn vô tội. Mặc dù Ngài “bị thử thách trong mọi sự cũng như chúng ta” (Hê-bơ-rơ 4:15), Ngài không bao giờ phạm tội, thậm chí không phạm tội trong một tư tưởng. Tuy nhiên, Hê-bơ-rơ 5:8 chỉ ra rằng, “dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu.” Sự phục tùng của Chúa Giê-su đối với ý muốn của Cha luôn luôn hoàn hảo. Không có lúc nào Ngài từ chối phục tùng, dù chắc chắn nhiều lần điều đó không phải dễ dàng.

Phi-líp 2:5–8 được nhiều người cho là những câu Kinh Thánh hùng mạnh và đẹp nhất. Phao-lô muốn nói gì ở đây? Quan trọng nhất, làm sao chúng ta áp dụng các nguyên tắc được nêu ở đây vào cuộc sống của chính mình?

Đức Chúa Giê-su, Đấng ngang hàng với Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời, không chỉ mặc lấy xác thịt con người mà còn trở thành “người tôi tớ (nô-lệ)” và sau đó hiến dâng chính mình làm của lễ chuộc tội cho chúng ta! Phao-lô cũng nói rằng Ngài đã trở thành “sự rủa sả vì chúng ta” (Ga-la-ti 3:13). Để trở thành Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, đã phải chết trên thập giá, và điều đó buộc Ngài phải trở thành một sự rủa sả vì chúng ta.

Làm sao trí óc chúng ta có thể hiểu thấu được điều này? Hơn thế nữa, làm sao chúng ta có thể thực hành những lời dạy bảo trong Kinh Thánh, tức là có cùng một sự tự nguyện hạ mình và hy sinh bản thân vì lợi ích của người khác?

Đức Chúa Giê-su phán: “Nhưng ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi. Ai tôn mình lên, thì sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống, thì sẽ được tôn lên” (Ma-thi-ơ 23:11, 12). Phao-lô trong Phi-líp 2:5–8 phản ánh lời Chúa Giê-su dạy.

Với ngôn từ mạnh mẽ hơn, Phao-lô đã lặp lại ở đây về việc không làm bất cứ điều gì “vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh” (Phi-líp 2:3).

Chúng ta nên đáp lại thế nào cho xứng đáng với những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta, như đã mô tả trong Phi-líp 2:5–8, ngoài việc quỳ gối và thờ phượng? Tại sao đó là điều rất sai lầm khi nghĩ rằng việc làm của chúng ta có thể bổ sung cho những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta?

 1 Cô-rinh-tô 8:2 là một câu Kinh Thánh rất phổ biến: “Nếu có ai tưởng mình biết điều gì, thật người ấy chưa biết như mình nên biết.” Chúng ta không thể biết trọn mọi chi tiết của bất cứ đề tài nào. Chúng ta luôn có thể học thêm một điều gì đó—nhất là về lẽ thật đời đời nối liền với Đức Chúa Trời và sự Nhập Thể. Phao-lô thường nhắc đến sự hạ mình đáng kinh ngạc của Đấng Christ khi trở thành một con người. Đây là một đề tài mà ngay cả cõi đời đời cũng không đủ để khám phá hết.

Đọc Rô-ma 8:3, Hê-bơ-rơ 2:14–18 và Hê-bơ-rơ 4:15. Điều gì mô tả đặc điểm của sự hạ mình của Đức Chúa Giê-su và việc Ngài mang bản chất con người?

Làm sao có thể Con Đức Chúa Trời vĩnh cửu, qua hoạt động của Đức Thánh Linh (xem Lu-ca 1:35), lại trở thành một Đấng mang cả thần tính và nhân tính trong tử cung Ma-ri? Thật khó hiểu khi vô hạn và vĩnh cửu đột nhiên có thể trở thành một con người hữu hạn phải chịu chết. Đó là cốt lõi của điều mà Phao-lô gọi là “sự mầu nhiệm của lòng tin kính” (1 Ti-mô-thê 3:16).

Trong bài thánh ca tuyệt đẹp của Phi-líp 2, Phao-lô đã trình bày chi tiết hơn về sự hạ mình này:

• “Có hình dạng của Đức Chúa Trời” (Phi-líp 2:6)— ám chỉ bản chất thần thánh của Ngài, rằng Đức Chúa Giê-su ngang hàng với Đức Chúa Cha (so sánh Giăng 1:1).

• “Từ bỏ chính mình” (Phi-líp 2:7). Bản chất huyền bí của Đức Chúa Giê-su tự bỏ mình khỏi các đặc quyền thiêng liêng của Ngài—để có thể thực sự trở thành con người và bị cám dỗ như chúng ta—thật đáng kinh ngạc.

• “Ngài đã hạ mình xuống” (Phi-líp 2:8). Khi mang bản chất con người, Chúa Giê-su đã chuyển từ quyền tối cao của vũ trụ sang sự phục tùng hoàn toàn, trái ngược với mục đích của Lu-xi-phe.

• “Sự chết, thậm chí là chết trên thập giá” (Phi-líp 2:8). Không có cách chết nào nhục nhã hơn cách Đức Chúa Giê-su đã chọn, đã bàn định với Chúa Cha trong “mưu hòa bình” (Xa-cha-ri 6:13), minh họa trước kia qua việc Môi-se giương cao con rắn (Dân số Ký 21:9, Giăng 3:14), và do đó trở thành “tội lỗi vì chúng ta, là người không biết tội lỗi; hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21).

Tập trung vào những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta trên thập giá—xem thập tự giá là tấm gương về sự phục tùng và khiêm nhường—có thể khiến chúng ta khiêm nhường hơn, cũng như phục tùng Đức Chúa Trời hơn ra sao?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

 “Tất cả tình yêu thương của cha mẹ đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua tấm lòng con người, tất cả những nguồn suối của sự dịu dàng đã mở ra trong tâm hồn con người, là chỉ như một dòng suối nhỏ dẫn đến đại dương bao la khi so sánh với tình yêu vô hạn, vô tận của Đức Chúa Trời. Không có lời nào có thể diễn tả được, không một ngòi bút nào có thể mô tả được. Bạn có thể suy ngẫm về tình yêu thương đó mỗi ngày trong cuộc đời mình; bạn có thể siêng năng nghiên cứu Kinh Thánh để hiểu; bạn có thể vận dụng mọi sức mạnh và khả năng mà Chúa đã ban cho bạn, trong nỗ lực hiểu được tình yêu thương và lòng trắc ẩn của Cha trên trời; nhưng vẫn còn vô hạn vượt xa hơn như thế. Bạn có thể nghiên cứu tình yêu thương đó trong nhiều thế kỷ; nhưng bạn không bao giờ có thể hiểu hết được chiều dài và chiều rộng, chiều sâu và chiều cao của tình yêu Chúa khi Ngài ban Con Ngài để chết cho thế gian. Chính cõi vĩnh hằng không bao giờ có thể tiết lộ đầy đủ tình yêu thương đó. Tuy nhiên, khi chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh và suy ngẫm về cuộc đời của Đấng Christ và kế hoạch cứu chuộc, những chủ đề vĩ đại này sẽ ngày càng mở ra cho chúng ta hiểu biết nhiều hơn nữa.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 5, tr. 740. “Khi chúng ta được đào tạo, giống như Môi-se được đào tạo trong trường học của Đấng Christ, chúng ta sẽ học được gì?—trở nên tự hào?—tôn cao bản thân?—Không phải vậy. Càng học trong trường học này, chúng ta càng trở nên nhu mì và khiêm nhường. Chúng ta không nên nghĩ rằng mình đã học hết mọi thứ đáng biết. Chúng ta nên tận dụng tối đa các tài năng mà Chúa đã ban cho chúng ta, để khi chúng ta được biến đổi từ thể hay chết sang thể không hay chết, chúng ta sẽ không bỏ lại những gì mình đã đạt được, mà có thể mang theo mình vào cõi đời đời. Trong cõi vĩnh hằng, Đấng

Christ và công cuộc cứu chuộc của Ngài sẽ là chủ đề nghiên cứu của chúng ta.”—Ellen G. White, Manuscript 36, 1885.


ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Chia sẻ trong lớp về những cách khác nhau mà bạn đã biết và trải nghiệm tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
  2. Đức Chúa Giê-su đã đến “giống như loài người” (Phil. 2:7) có nghĩa là gì? So sánh Rô-ma 8:3. Thảo luận những câu Kinh Thánh này đối chiếu lẫn nhau.
  3.  Hội thánh địa phương bạn đang phải đối mặt với những thách thức nào trong sự hiệp một? Bất kể vấn đề là gì, tại sao sự khiêm nhường thành thật, và sự vắng mặt của những hành vi được thúc đẩy bởi “tham vọng ích kỷ hoặc tự phụ” (Phi-líp 2:3) lại là một cách rất hay để bắt đầu giải quyết các vấn đề?

Bài Học 3, 10 – 16 Tháng 1 

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Phi-líp 1:19–30, 1 Cô-rinh-tô 4:14–16, 2 Cô-rinh-tô 10:3–6, Giăng 17:17–19, Mi-chê 6:8, Công vụ 14:22.

Câu Gốc:  “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Phi-líp 1:21).

Đọc Phi-líp 1:19, 20. Phao-lô có vẻ như mong đợi điều gì về kết quả của phiên tòa xét xử ông? Điều gì quan trọng hơn việc được tha bổng?

Mặc dù Phao-lô không phải là tội phạm, nhưng đây không phải là lần đầu ông bị cầm tù, và ông không lạ gì với sự ngược đãi. Phao-lô kể cho người Cô- rinh-tô chi tiết về những hoạn nạn ông trải qua cho đến thời điểm đó: “Tôi thường xuyên bị tù, đòn vọt quá chừng. Đôi phen tôi gần phải bị chết. Năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; Ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường nguy hiểm trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong thành phố, nguy trong sa mạc, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; mệt mỏi và khó nhọc, thường xuyên mất ngủ, đói khát, thường xuyên phải nhịn ăn, lạnh lẽo và trần truồng” (2 Cô-rinh-tô 11:23–27).

Nhưng để chúng ta không nghĩ rằng những đau khổ này là điều quan trọng nhất trong tâm trí của ông, Phao-lô lập tức nói thêm, “còn những điều chưa kể khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh” (2 Cô- rinh 11:28).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 4:14–16; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:10, 11; Ga-la-ti 4:19; và Phi-lê-môn 10. Phao-lô có mối quan hệ nào với các hội thánh mà ông thành lập và những người mà ông đã chinh phục cho Đấng Christ?

Cũng như Đức Chúa Giê-su, Đấng không tiếc bất cứ điều gì để cứu chúng ta, Phao-lô sẵn sàng “phí của và phí trọn cả mình tôi” vì lợi ích của những người cùng đức tin (2 Cô-rinh-tô 12:15). Nhưng, nghịch lý thay, một người càng hành động theo gương Đức Chúa Giê-su, thì họ càng ít được yêu mến hoặc trân trọng bởi một số người. “Hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Giê-su Christ, thì sẽ bị bắt bớ” (2 Ti-mô-thê 3:12). Nhưng những người Cơ Đốc trung tín có lẽ vẫn là phương cách hùng mạnh nhất để tôn vinh Chúa và bày tỏ lẽ thật của phúc âm (so sánh Phi-líp 1:7). “Sự kiên nhẫn và vui vẻ của Phao-lô trong thời gian dài bị giam cầm bất công, lòng can đảm và đức tin của ông, là một bài giảng liên tục.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 464.

Hãy nhìn lại cách bạn sống và cách bạn đối xử với mọi người, nhất là những người không tử tế với bạn. Bạn làm chứng thế nào cho Đức Chúa Giê-su?

Tất cả chúng ta, đặc biệt là những người tin Chúa, đều dự phần vào cuộc thiện ác đấu tranh lớn đang diễn ra xung quanh và cũng chính trong chúng ta. Hoặc cách này hay cách khác, chúng ta đều trải nghiệm thực tế của cuộc tranh chấp vũ trụ này, và chúng ta sẽ tiếp tục trải nghiệm cho đến ngày chúng ta qua đời.

Đọc 2 Cô-rinh-tô 10:3–6. Điều gì là căn bản của cuộc chiến thuộc linh mà chúng ta đang tham chiến, và vũ khí của chúng ta là gì?

Vũ khí thuộc linh nguy hiểm nhất là ý tưởng, tốt lẫn xấu. Sa-tan dùng sự chỉ trích, phản bội, xấu hổ, sợ hãi, áp lực từ bạn bè, và vô số công cụ tương tự mà Cơ Đốc nhân không bao giờ nên dùng. Thay vào đó, chúng ta phải dùng tình yêu thương, lòng thương xót, bình an, dịu dàng, nhịn nhục, tử tế và tự chủ. Vũ khí mạnh mẽ nhất của chúng ta, được xử dụng một cách khôn ngoan, là “Lời Chúa”, gươm của Thánh Linh (Ê-phê-sô 6:17), bởi vì chỉ có Chúa mới có thể mang lẽ thật vào lòng người. Chúng ta chỉ là công cụ mà Chúa dùng để hoàn tất mục đích Ngài.

Đọc Phi-líp 1:21, 22. Chúng ta hiểu quan điểm của Phao-lô như thế nào, đặc biệt là trong bối cảnh của cuộc thiện ác đấu tranh?

Bởi vì đây là cuộc chiến thuộc linh, chúng ta đang ở trong một chiến tranh về tư tưởng và giá trị. Tuy nhiên, Đấng Christ đã giành chiến thắng trên thập giá cho chúng ta, và miễn là chúng ta duy trì kết nối với Ngài, chúng ta sẽ không bao giờ bị đánh bại, ngay cả khi chúng ta bị giết. Phao-lô đã dâng cuộc đời mình cho bất cứ điều gì xảy ra trên trần gian, dù bất công đến đâu, vì ông đã ủy thác cuộc đời và tương lai mình cho một tòa án cấp cao hơn.

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta chiến đấu không phải cho quyền lợi của mình mà là cho lẽ phải. Không phải “sức mạnh bao giờ cũng đúng” mà “lẽ phải là sức mạnh.” Việc phục tùng theo ý Chúa là điều đáng tôn trọng; trên thực tế, đó là cách duy nhất để giành chiến thắng trong cuộc chiến mà chúng ta đang tham gia. Tất nhiên, Đức Chúa Giê-su là mẫu mực hoàn hảo nhất của sự phục tùng ý muốn Đức Chúa Trời, như Phao-lô đã nêu ra trong Phi-líp 2.

Ngay lúc này, bạn đang trải nghiệm thực tế của cuộc đấu tranh thiện ác ra sao? Bạn có thể tìm được sự an ủi và sức mạnh như thế nào khi biết rằng Đấng Christ đã giành chiến thắng cho bạn rồi?

Đọc Phi-líp 1:23, 24. Phao-lô có ý gì khi ông nói rằng “muốn đi ở với Đấng Christ là điều rất tốt hơn”?

Phần Kinh Thánh này đã bị hiểu lầm rất nhiều qua các thời đại. Ở đây, Phao-lô nói về sự tương phản giữa sống và chết. Cơ Đốc nhân sống cho Đấng Christ và thậm chí có thể chết cho Ngài. Theo nghĩa ấy, đó là “lợi ích” vì lời chứng của chúng ta hùng mạnh và đầy sức thuyết phục (Phi-líp 1:21). Chắc chắn một người tin khi họ sẵn sàng chết cho niềm tin đó.

Nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận rằng người chết thực sự đã chết. Họ “không biết gì cả.” Họ nghỉ ngơi trong phần mộ cho đến khi được phục sinh (Truyền đạo 9:5; Giăng 5:28, 29). Đó là lý do tại sao Đức Chúa Giê-su nói về La-xa-rơ, người đã chết, “La-xa-rơ, bạn chúng ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người” (Giăng 11:11).

Nếu người ta khi chết lập tức lên thiên đàng, hãy tưởng tượng xem La-xarơ sẽ cảm thấy ra sao. Sau bốn ngày vui đùa trên thiên đàng, La-xa-rơ được một thiên sứ đến báo tin “dữ”: “Xin lỗi, La-xa-rơ, nhưng Chúa Giê-su đang gọi ngươi trở về trái đất. Ngươi không thể ở lại đây.”

Khi chúng ta đi theo một sai lầm đến kết luận hợp lý của nó, chúng ta sẽ thấy nó sai lầm đến đâu. Cái chết giống như một giấc ngủ không chiêm bao và Đức Chúa Giê-su sẽ đánh thức những người trung tín theo Ngài khi Ngài tái lâm; sau đó, cùng với các thánh đồ còn sống, họ sẽ được cất lên và đưa lên thiên đàng để ở cùng Chúa Giê-su mãi mãi (xem 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16, 17).

Việc Phao-lô “ra đi” khỏi cuộc sống hiện tại để ở với Đấng Christ có nghĩa là ông ở cùng Ngài trong đau khổ và chết (2 Ti-mô-thê 4:6) để “đạt đến sự sống lại từ cõi chết” (Phi-líp 3:11). Ngoài ra, chắc hẳn ông đã biết rằng mình sẽ nhắm mắt lại khi chết và điều tiếp theo mà ông biết, trong nháy mắt, sẽ là nhìn thấy Đức Chúa Giê-su, Đấng sẽ đưa ông, cùng với tất cả dân sự của Đức Chúa Trời, đến nơi mà Chúa đã chuẩn bị cho tất cả những ai yêu mến Ngài (Giăng 14:3, 1 Cô-rinh-tô 2:9).

Mặc dù sẵn sàng chết vì Đấng Christ, Phao-lô biết rằng nếu ông “ở lại trong xác thịt,” đó là điều tốt hơn cho người Phi-líp (Phi-líp 1:24). Đối với Cơ Đốc nhân, sống cho Đấng Christ hay chết cho Ngài, điều gì tốt hơn không nhất thiết là điều dễ trả lời. Phao-lô “bị ép giữa hai bề” (Phi-líp 1:23), giữa việc vẫn sống hay an nghỉ trong mồ.

Một lần nữa, dù không ai muốn chết, bạn có bao giờ nghĩ về giây phút khi bạn nhắm mắt qua đời, điều kế tiếp mà bạn biết là sự tái lâm của Đấng Christ không? Ý tưởng này có thể giúp bạn hiểu những suy tư của Phao-lô ở đây ra sao?

Chủ đề nổi bật trong lời cầu nguyện cuối cùng của Đức Chúa Giê-su cho các môn đồ Ngài là sự hiệp nhất. Chúa Giê-su hướng nhìn đến sự đoàn tụ với Cha Ngài và với chúng ta sau biến cố thập giá: “Cha ơi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con” (Giăng 17:24). Đức Chúa Giê-su cầu nguyện rằng Cha sẽ giữ gìn con cái Ngài để “họ có thể trở nên một như Chúng Ta” (Giăng 17:11). Ngài cũng nhấn mạnh hậu quả đáng sợ của sự chia rẽ—nó trở thành lý do khiến nhiều người không tin. Hai lần trong lời cầu nguyện ngắn ngủi này, Đức Chúa Giê-su nhấn mạnh sự hiệp nhất của chúng ta với Ngài và với Cha là để “thế gian tin” và để “thế gian biết rằng Cha đã sai Con” (Giăng 17:21, 23).

So sánh Phi-líp 1:27 và Giăng 17:17–19. Cả Đức Chúa Giê-su và Phaolô nói điều gì không thể thiếu được cho sự hiệp nhất trong hội thánh?

“Hãy ăn ở cho xứng đáng” từ tiếng Hy Lạp trong Phi-líp 1:27 cũng có nghĩa “sống như một công dân”—không phải của bất kỳ quốc gia trần gian nào mà là của “nước thiên đàng.” Bài Giảng trên Núi vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp về ý nghĩa của việc trở thành con cái của Cha trên trời và công dân của nước Ngài: khó khăn tâm linh, nhu mì, đói khát sự công bình, có lòng thương xót, có lòng trong sạch, người xây dựng hòa bình, chìa má bên kia, yêu kẻ thù, chúc phước cho những kẻ nguyền rủa chúng ta, làm điều tốt cho những kẻ ghét chúng ta. Tóm lại, “làm điều công bình, ưa sự nhân từ, và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời của ngươi” (Mi-chê 6:8).

Thật khó mà bực bội hay tức giận với một người như vậy phải không? Đôi khi chúng ta hậm hực với những người có vẻ quá tốt. Chúng ta thậm chí muốn hạ họ xuống hoặc moi ra điểm yếu của họ để chứng minh rằng họ “trông vậy mà không phải vậy”; tất cả chỉ để chúng ta cảm thấy thoải mái hơn về cá nhân mình. Bạn ơi, thay vào đó, tại sao không thử xem chúng ta có thể yêu thương hơn, rộng lượng hơn, thương xót hơn, khiêm nhường hơn?

Sự chia rẽ trong hội thánh thường hay bắt nguồn từ sự kiêu hãnh. “Khi lòng kiêu hãnh và tham vọng thế gian được nâng niu, tinh thần của Đấng Christ sẽ biến mất, và sự ganh đua, bất đồng và xung đột xuất hiện để làm xao lãng và suy yếu hội thánh.”—EGW, Testimonies for the Church, tập 5, tr. 240.

Đó là điều rất quan trọng cho mỗi chúng ta học sự khiêm nhường và nhu mì mà Đức Chúa Giê-su đã làm gương cho chúng ta! Và hội thánh chúng ta sẽ thay đổi biết bao!

Đọc Phi-líp 1:27–30. Sự hiệp nhất và “đồng tâm chống cự vì đức tin của Phúc Âm” liên quan đến sự dũng cảm ra sao?

Chiến lược của Sa-tan là chia rẽ và chinh phục. Chia rẽ là điều rất nguy hiểm. Đức Chúa Giê-su phán: “Nếu một ngôi nhà tự chia rẽ, thì ngôi nhà đó không thể đứng vững được” (Mác 3:25). Đây là một nguyên tắc đơn giản mà Sa-tan rất vui khi chúng ta quên. Sự hiệp một giúp chúng ta hoàn thành vai trò tiên tri của mình như những người còn sót lại (Khải 12:17), là rao truyền “Tin Lành đời đời” cho “mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân tộc” (Khải 14:6). Bởi vì sự hiệp một là cần thiết để chúng ta hoàn thành sứ mạng truyền bá sứ điệp mà Đức Chúa Trời giao phó; và lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Giăng 17 nhấn mạnh “lẽ thật” của Lời Đức Chúa Trời như một trong những chìa khóa quan trọng nhất cho sự hiệp một (Giăng 17:17, 19). Sứ điệp của chúng ta không thể tách rời khỏi sứ mạng hoặc sự hiệp nhất. Cả ba cùng tồn tại hoặc cùng sụp đổ. Nếu thiếu một trong ba chìa khóa này, chúng ta không thể thành công. Vậy nên, nếu chúng ta có cả ba chìa khóa, thì không có gì phải sợ. Chúng ta không cần phải “sợ hãi” trước sự chống đối (Phi-lip 1:28). Sa-tan là kẻ thù đã bị đánh bại. Ngay cả khi chúng ta phải chịu chết vì đức tin của mình, không gì có thể làm hại chúng ta nếu chúng ta “là những người sốt sắng làm điều lành” (1 Phi-e-rơ 3:13). Ma quỷ bất lực trong việc ngăn cản bước tiến của lẽ thật của Chúa.

Đọc những câu Kinh Thánh sau đây và tóm tắt ngắn gọn chủ đề chung của chúng: Ma-thi-ơ 10:38, Công vụ 14:22, Rô-ma 8:17, 2 Ti-mô-thê 3:12.

Cuộc sống trong thế gian sa ngã này là khó khăn, ngay cả với những người “giỏi nhất” trong chúng ta. Gióp là một người công chính; chính Đức Chúa Trời đã nói về Gióp “vốn người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác” (Gióp 1:8). Tuy nhiên, chỉ sau một đêm, tai họa đã ập đến với ông và gia đình ông. Ai đã chẳng từng học được, qua kinh nghiệm cá nhân, hoặc được chứng kiến những gì đã xảy ra với người khác, rằng cuộc đời trên cõi trần này như là đang ở bên bờ vực thẳm, và chúng ta không bao giờ biết khi nào mình sẽ rơi xuống vực? Đau khổ, không ít thì nhiều, là số phần của tất cả chúng ta. Tuy nhiên, cuối cùng, thà chịu gian nan vì Đấng Christ hơn là vì bất cứ điều gì khác.

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta có được hy vọng gì, an ủi gì, trong cơn hoạn nạn?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

“Tiếng reo chiến thắng của người tử đạo vang vọng từ giá treo, cọc, ngục tối, và cả từ hang động trong lòng đất. Ngài [Đấng Cứu Rỗi] lắng nghe lời chứng của những tâm hồn kiên định, những người, mặc dù cơ cực, đau đớn, đoạ đày, nhưng vẫn mang lời chứng hùng hồn, trang trọng cho đức tin, tuyên bố, ‘Tôi biết tôi đã tin Đấng nào.’ Những người này, hy sinh mạng sống của mình vì đức tin, tuyên bố với thế giới rằng Đấng mà họ tin cậy có năng quyền cứu rỗi trọn vẹn.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 512.

“Đức tin trong thế giới Cơ Đốc giáo ngày nay thật đa dạng hơn bao giờ hết. Nếu sự ban cho [chức sứ đồ, tiên tri, nhà truyền giáo, mục sư và giáo sư (Ê-phê-sô 4:11–13)] là cần thiết để duy trì sự hiệp nhất của hội thánh thưở ban đầu, thì việc khôi phục sự hiệp nhất ngay bây giờ còn cần thiết hơn biết bao! Và mục đích của Đức Chúa Trời trong việc khôi phục sự hiệp nhất của hội thánh trong những ngày sau rốt được chứng minh rất rõ ràng qua các lời tiên tri. Chúng ta được đảm bảo rằng những người canh gác sẽ nhìn thấy mặt đối mặt, khi Đức Giê-hô-va trở lại Si-ôn. Vào thời kỳ cuối cùng, những người khôn ngoan cũng sẽ hiểu. Khi điều này được ứng nghiệm, sẽ có sự hiệp nhất đức tin với tất cả những người mà Đức Chúa Trời cho là khôn ngoan; vì những người thực sự hiểu đúng, thì nhất thiết phải hiểu như nhau. . . . Từ những cân nhắc như thế này, rõ ràng là tình trạng hoàn hảo của hội thánh được tiên đoán ở đây vẫn còn trong tương lai; do đó, những ân tứ này vẫn chưa hoàn thành mục đích của chúng.”—R. F. Cottrell, “Introduction,” trong Ellen G. White, Early Writings, tr. 140.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Theo trích dẫn trên của R.F. Cottrell, điều gì là cần thiết để Đức Thánh Linh mang lại sự hiệp nhất trong hội thánh của Đức Chúa Trời ngày nay? Việc thực hành các lời khuyên dạy đến từ ân tứ tiên tri quan trọng thế nào đối với sự đoàn kết của hội thánh?
  2. Bàn sẽ giải thích thế nào về sự chết, theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, cho những thân nhân của người chết, khi họ tin rằng Phao-lô và các Cơ Đốc nhân đã chết khác, là hiện đang “ở với Đấng Christ” trên thiên đàng?
  3. Chúng ta hiểu thế nào về thực tế khủng khiếp của sự đau khổ trên thế gian này? Tại sao chủ đề về cuộc thiện ác đấu tranh có thể giúp chúng ta hiểu được một phần những điều đó? Tuy nhiên, tại sao cuối cùng chúng ta phải nhìn vào Đức Chúa Giê-su trên thập giá như sự diễn tả trọn vẹn về tình yêu của Đức Chúa Cha và học cách tin cậy Ngài ngay cả trong những giai đoạn khốn cùng nhất?

Bài Học 2, Ngày 4 – 10 Tháng 1

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Phi-líp 1:1–18, 1 Cô-rinh-tô 13:1–8, Giê-rêmi 17:9, Cô-lô-se 1:1–12, 1 Phi-e-rơ 1:4, Thi thiên 119:105, Ê-sai 30:21.

Câu Gốc: “Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 1:6).

Đọc Phi-líp 1:3–8. Phao-lô biết ơn về điều gì? Ông đã đưa ra những lời đảm bảo nào cho người Phi-líp và tại sao điều đó là quan trọng?

Hội thánh tại Phi-líp đã được Phao lô thành lập; do đó, qua thư ông, chúng ta có thể cảm thấy sự ấm áp của sự thông công trong Cơ Đốc giáo. Mặc dù xa cách hàng trăm dặm, Phao-lô, bị xiềng xích và giam cầm, vẫn mang trong lòng hội thánh và các tín hữu; ông nhớ mong họ “với lòng yêu dấu của Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 1:8); và tạ ơn Chúa vì họ. Lời cầu nguyện tạ ơn của Phao-lô cũng đã hé lộ sự cầu thay của Đức Chúa Giê-su cho chúng ta trên thiên đàng.

Trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm có 12 viên đá tượng trưng cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên. Dân sự phải ở “trong lòng ông” khi ông cầu thay cho họ (Xuất 28:29). Là Thầy Tế lễ Thượng phẩm của chúng ta tại đền thánh trên trời, Đức Chúa Giê-su mang theo tên của dân sự Ngài trước mặt Cha.

Phi-líp 1:3 nhấn mạnh mối thân thiết giữa Phao-lô và người Phi-líp. Câu nầy thường được dịch rằng Phao-lô nhớ đến họ trong lời cầu nguyện, nhưng cũng có thể ám chỉ đến việc họ nhớ đến ông. Điều này nhấn mạnh đến sự tương hỗ chặt chẽ mà họ chia xẻ, mà chữ “thông công” (tiếng Hy Lạp: koinonia) cũng nhấn mạnh. Vì Phao-lô đã thông công trong sự đau khổ của Đấng Christ (Phi-líp 3:10), nên những người Phi-líp “dự phần” trong sự đau khổ của Phao-lô và chia sẻ tài chính để hỗ trợ chức vụ của người (Phi-líp 4:14, 15). Sự tương hỗ này, vốn có “từ ngày đầu tiên cho đến bây giờ” (Phi-líp 1:5), khiến ông cảm tạ Chúa vì họ và cầu nguyện cho họ “với niềm vui mừng” (Phi-líp 1:4).

Điều thú vị là Phao-lô mô tả khá tích cực hoàn cảnh trong tù của mình —như để tạo cơ hội cho việc “bênh vực và làm chứng đạo Tin Lành” (Phi-líp 1:7). Việc ông dùng hai thuật ngữ pháp lý này cho thấy phiên tòa xét xử ông sắp xảy ra, và Phao-lô đang tích cực lôi kéo những người lính và khách viếng đến với phúc âm. Việc bênh vực phúc âm chống lại các cuộc tấn công, và xác nhận những chân lý vĩnh cửu của phúc âm là điều cần thiết. Phao-lô có vẻ như ít quan tâm đến tương lai của chính mình hơn là việc biện minh cho phúc âm. Dù sống hay chết, Phao-lô vẫn vững tin rằng Đức Chúa Trời sẽ làm trọn “công việc tốt lành” mà Ngài đã bắt đầu trong tất cả những ai tin cậy Ngài (Phi-líp 1:6).

Bạn hiểu thế nào về lời hứa Đức Chúa Trời sẽ làm trọn “công việc tốt lành trong anh em” (Phi-líp 1:6)? Liệu công việc này có bao giờ kết thúc trước khi Chúa tái lâm không?

Vài năm trước, có một mục sư đã nói về những lời cầu nguyện xoay quanh tôi, tôi, tôi, và những nhu cầu hoặc mong muốn của tôi. Ông đã khéo léo mô tả chúng như “những lời cầu nguyện nhỏ nhen ích kỷ,” bởi vì Đức Chúa Trời có những điều lớn lao hơn trong trí.

Đọc lời cầu nguyện của Phao-lô trong Phi-líp 1:9–11. Trọng tâm của lời cầu nguyện là gì và ông có những nguyện cầu to lớn nào? Lời cầu nguyện ấy cho bạn biết gì về sự cầu nguyện?

Lời cầu nguyện này chỉ có bốn mươi ba từ trong tiếng Hy Lạp, nhưng tóm tắt tất cả những mối quan tâm của Phao-lô, và sẽ được ông mở rộng hơn trong phần còn lại của bức thư: tình yêu thương, sự sáng suốt, sự chân thành, không xúc phạm, và sự công bình mà chúng ta có được qua Chúa Giê-su Christ. Cơ bản của lời cầu nguyện này, cũng như những lời bày tỏ lòng biết ơn của Phao-lô trước đó, là sự nhấn mạnh vào hội thánh như một toàn thể. Lời cầu nguyện của Phao-lô hoàn toàn tập trung vào người khác, thay mặt cho toàn thể hội thánh và cho sự phước hạnh của hội thánh. Chúng ta hãy xem kỹ hơn từng yếu tố của lời cầu nguyện:

Tình yêu thương ngày càng gia tăng. Phao-lô không chỉ cầu nguyện cho tình yêu thương được chan chứa hơn, mà còn được hướng dẫn theo một hướng cụ thể: “trong sự thông biết và sự suy hiểu” (Phi-líp 1:9). Nói về sự hiểu biết, nó không chỉ là sự hiểu biết về mặt trí tuệ ,mà còn ám chỉ đến sự hiểu biết về những điều thuộc linh mà chỉ có thể đạt được qua mối tương giao với Đức Chúa Trời và nghiên cứu Lời Ngài (Ê-phê-sô 1:17; Ê-phê-sô 4:13; 1 Ti-mô-thê 2:4).

Sự sáng suốt. Phao-lô giải thích đây là việc “phân biệt điều gì là tốt lành” (nhận biết những điều có hại về mặt đạo đức) “và vì vậy được trong sạch và không chỗ trách được” (Phi-líp 1:10).

Sự chân thành. Trong tiếng Hy Lạp nó có nghĩa là “được phán xét bởi ánh sáng mặt trời” và ám chỉ sự trong sạch không tì vết của hành động: “Mọi điều mà Cơ Đốc nhân làm phải trong sáng như ánh sáng mặt trời.”—Ellen G. White, Reflecting Christ, tr. 71.

Không gây xúc phạm. Điều này có nghĩa là mình không trở thành chướng ngại vật, không nói hoặc làm điều gì cản ngăn đức tin người khác.

Sự công bình qua Đấng Christ. Phao-lô đã nói nhiều về điều này trong các thư Rô-ma và Ga-la-ti và sẽ giải thích thêm trong Phi-líp 3. Chúng ta không có sự công bình của riêng mình mà chỉ có những gì chúng ta nhận được qua Đấng Christ.

Làm cách nào tình yêu của chúng ta có thể “ngày càng gia tăng” (Phi-líp 1:9)? Tại sao điều đó là quan trọng cho đời sống Cơ Đốc? (Xem thêm 1 Cô-rinh-tô 13:1–8.)

Người Phi-líp rất đau buồn khi nghe tin Phao-lô bị cầm tù. Công việc của ông nay bị hạn chế nghiêm trọng. Ông không thể đi lại, không thể rao giảng, không thể đến thăm các nhà hội và giảng dạy mọi người về Chúa Giê-su là Đấng Mê-si, không thể gây dựng các hội thánh mới nữa. Người Phi-líp đã cử Ép-pa-phô-đích đến để xác định tình trạng của sứ đồ, để khích lệ ông và đảm bảo rằng các nhu cầu vật chất của ông được đáp ứng.

Đọc Phi-líp 1:12–18. Phao-lô đã xem việc ông bị giam cầm ra sao? Chúng ta học được bài học nào từ thái độ của ông, cho dù trong hoàn cảnh nào?

Sứ điệp mà Phao-lô gửi về, hẳn đã khiến người Phi-líp ngạc nhiên. Phao-lô nhìn hoàn cảnh của mình theo một góc nhìn khác. Sự sáng suốt thuộc linh đã khiến ông coi việc bị giam cầm là một điều tốt. Nó không hề cản trở công việc của ông, mà “thực sự giúp cho Tin Lành được tiến triển” (Phi-líp 1:12). Trong khi những người khác chỉ thấy xiềng xích và song sắt, Phao-lô lại thấy những người lính La Mã canh giữ ông là những linh hồn tiềm năng trong nước Đức Chúa Trời. Ông cũng thấy rằng việc ông bị giam cầm đã khuyến khích rất nhiều người khác tích cực hơn và quyết tâm hơn trong việc truyền bá phúc âm, mạnh dạn nói về Đấng Christ mà không sợ hậu quả.

Tuy khó tưởng tượng, nhưng một số người thực sự nghĩ rằng họ sẽ có lợi từ việc Phao-lô bị giam cầm. Họ cho rằng sự lu mờ của ông sẽ làm họ và sự giảng dạy của họ được chú ý đến hơn. Thật là một ví dụ mạnh mẽ nhưng đáng buồn về lòng ích kỷ của con người, ngay cả trong giáo hội. Như Giê-rê-mi đã nói từ lâu trước Phao-lô: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa; ai có thể biết được?” (Giê-rê-mi 17:9).

Ngược lại, và may mắn thay, một số người hầu việc tín trung cũng trở nên nhiệt thành hơn trong việc truyền bá phúc âm. Họ rất thương mến Phao-lô, và khi chứng kiến những hoạn nạn ông phải chịu đựng vì đức tin của ông, đã khiến họ tin cậy Đấng Christ hơn và mạnh dạn hơn vì danh Ngài. Họ dám đến nơi mà trước đây họ sợ hãi; họ dám lên tiếng trong những tình huống mà trước đây họ im lặng. Đức tin ấy khiến càng nhiều người hơn tin nhận Đấng Christ và truyền bá phúc âm cứu rỗi.

Bạn đã học được bài học nào từ những kinh nghiệm, mặc dù tồi tệ, nhưng cũng mang lại một số lợi ích? Trong những trường hợp lợi ích có thể không rõ ràng, làm sao chúng ta có thể học cách tin cậy Chúa bất kể ra sao?

Mối quan hệ của Phao-lô với người Cô-lô-se khác với người Phi-líp. Ông đã kể họ trong số những người “chưa thấy mặt tôi về phần xác” (Cô-lô-se 2:1). Tuy nhiên, Phao-lô bảo đảm với họ, như ông đã làm với người Phi-líp, rằng ông tạ ơn Chúa vì họ và “luôn” cầu nguyện cho họ.

Đọc Cô-lô-se 1:3-8. Phao-lô tạ ơn Chúa ba điều gì?

Phao-lô tập hợp ba đức tính mà ông đề cập ở những nơi khác: đức tin, hy vọng và tình yêu thương (xem 1 Cô-rinh-tô 13:13, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:8). Lưu ý rằng Phao-lô không ghi nhận công sức của người Cô-lô-se về những điều này. Ông tạ ơn Chúa Cha, vì những đức tính ấy là những ân tứ “tốt lành và trọn vẹn” mà chúng ta nhận được từ Ngài (Gia-cơ 1:17). Khi thấy được tình yêu mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, điều ấy sẽ dẫn chúng ta đến đức tin nơi Đấng Christ (Ê-phê-sô 2:4–8), và chúng ta nhận được hy vọng của thiên đàng. Phi-e-rơ mô tả đó là “một cơ nghiệp không hư nát, không ô uế, không suy tàn, để dành cho anh em trên trời” (1 Phi-e-rơ 1:4).

Phao-lô cũng nhấn mạnh rằng phúc âm là đáng tin cậy vì nó dựa trên “lời nói chân thật.” Đây là một diễn đạt mà Phao-lô dùng ở những nơi khác khi nói đến lời được soi dẫn của Đức Chúa Trời (xem 2 Cô-rinh-tô 6:7, 2 Ti-mô-thê 2:15). Không giống như “lời của loài người,” nó hành động “cách hiệu quả” trong những ai tin (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13) và hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Trời (Ê-sai 55:11). Vì vậy, khi phúc âm được rao giảng, quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua việc làm của Đức Thánh Linh trong lòng người nghe, và người ta đáp ứng lại. Chính phúc âm tạo ra bông trái vì đó là “lời sự sống” (Phi-líp 2:16).

Có lẽ điều diệu kỳ nhất là sự lan truyền của phúc âm trong một thời gian ngắn như vậy. Trong khoảng ba mươi năm sau khi Đấng Christ chết và sống lại, Phao-lô đã có thể nói rằng phúc âm đã lan truyền “khắp thế giới” (Cô-lô-se 1:6). Sau đó, ông nói rằng phúc âm “đã được rao giảng cho mọi tạo vật dưới trời” (Cô-lô-se 1:23). Hệ thống đường bộ bao quát của La Mã giúp cho việc giao tiếp và đi lại dễ dàng, do đó các thư tín của Phao-lô đã được truyền bá rộng rãi và nhanh chóng đến như vậy. Nhưng chính quyền năng của Đức Chúa Trời hoạt động qua lời Chúa đã sinh ra sự sống thuộc linh trong mỗi người (Gia-cơ 1:18, 1 Phi-e-rơ 1:23), khiến họ trở thành một tạo vật mới trong Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 5:17).

Trong Cô-lô-se 1:5, Phao-lô viết về “hy vọng dành sẵn cho anh em trên trời.” Bạn hiểu gì về hy vọng đó, và tại sao nó lại áp dụng cho cá nhân chúng ta, dầu chúng ta thực sự không xứng đáng?

Đọc Cô-lô-se 1:9–12. Bạn thấy những cầu xin cụ thể nào trong lời cầu nguyện của Phao-lô?

Phao-lô cầu nguyện xin “cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài.” Phao-lô mô tả việc biết ý muốn của Đức Chúa Trời là “sự khôn ngoan và sự hiểu biết thiêng liêng” (Cô-lô-se 1:9). Chúng ta có sự khôn ngoan, trước hết, bằng cách hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Trời, sẵn lòng làm theo ý muốn Ngài (Giăng 7:17), và không dựa vào sự hiểu biết của riêng mình (Châm ngôn 3:5). Nhưng câu hỏi thường nảy ra là “Ý muốn của Đức Chúa Trời cho tôi trong hoàn cảnh này là gì?” Chúng ta có thể thành tâm tìm biết ý muốn của Đức Chúa Trời qua ba nguồn sau đây:

1. Nguồn quan trọng nhất cho sự khôn ngoan chính là Kinh Thánh. “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi thiên 119:105).

2. Ý muốn và sự dẫn dắt của Chúa cũng có thể được biết đến qua những hoàn cảnh quan phòng, bằng cách cầu xin Ngài mở hoặc đóng các cánh cửa (Cô-lô-se 4:3).

3. Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta một khi chúng ta đã học cách nhận ra tiếng nói của Ngài: “Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đằng sau mình rằng: Này là đường đây, hãy noi theo!” (Ê-sai 30:21).

Phao-lô cầu nguyện cho người Cô-lô-se rằng họ “ăn ở cách xứng đáng với Chúa” (Cô-lô-se 1:10). Tất nhiên, không ai vốn dĩ “xứng đáng,” nhưng Đức Chúa Trời kể chúng ta là xứng đáng bởi ân điển của Ngài và kêu gọi chúng ta sống theo sự kêu gọi cao cả đó (Ê-phê-sô 4:1, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:12). Chỉ riêng trong lá thư này, Phao-lô dùng động từ “bước đi” hoặc “cư xử” hoặc “ăn ở” thêm ba lần nữa (Cô-lô-se 2:6; 3:7; 4:5). Điều ấy có nghĩa là sống và hành động theo luật pháp của Chúa (Xuất 18:20)—điều chỉ có thể thực hiện được qua sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh (Ê-xê-chi-ên 36:27).

Phao-lô cũng cầu nguyện rằng đời sống của họ (và của chúng ta) có thể “hoàn toàn đẹp lòng” Chúa và sau đó liệt kê một số cách để thực hiện: “Kết quả trong mọi việc lành” (Cô-lô-se 1:9, 10); sau đó “tăng trưởng trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời” (Cô-lô-se 1:10); và cuối cùng là “tạ ơn” (Cô-lô-se 1:12).

Nếu có ai hỏi, “Làm sao bạn biết rằng Đức Chúa Trời đang dẫn dắt bạn theo hướng này hay hướng khác?”, bạn sẽ trả lời như thế nào—và tại sao?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

“Nhiều người không thể dự tính kế hoạch chắc chắn cho tương lai. Đời sống họ không ổn định. Họ không suy đoán được kết quả của các sự việc, và điều này thường khiến họ lo lắng và bất an. Chúng ta hãy nhớ rằng cuộc đời của con cái Chúa trên thế giới này là cuộc đời của một kẻ hành hương. Chúng ta không có sự khôn ngoan để lập kế hoạch cho cuộc đời của chính mình. Chúng ta không thể định hình tương lai. ‘Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xừ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp; người đi mà không biết mình đi đâu.’ Hê-bơ-rơ 11:8.

“Trong cuộc đời trên trần gian, Đấng Christ không lập kế hoạch cho chính mình. Ngài chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Ngài, và từng ngày, Đức Chúa Cha đã tỏ bày chương trình của Ngài. Vì vậy, chúng ta nên phụ thuộc vào Đức Chúa Trời, để cuộc đời chúng ta có thể đơn giản là thực hiện theo ý muốn Ngài. Khi chúng ta giao phó đường lối mình cho Ngài, Ngài sẽ chỉ dẫn bước chân của chúng ta.

“Quá nhiều người, trong việc lập kế hoạch cho một tương lai huy hoàng, đã hoàn toàn thất bại. Hãy để Đức Chúa Trời lập kế hoạch cho bạn. Như một đứa trẻ, hãy tin cậy vào sự hướng dẫn của Ngài, Đấng sẽ ‘giữ chân các thánh của Ngài.’ 1 Sa-mu-ên 2:9.

Đức Chúa Trời không bao giờ dẫn dắt con cái Ngài theo cách khác với điều mà chính họ muốn được Ngài dẫn dắt, vì họ có thể thấy được kết quả từ lúc khởi đầu và hiểu được vinh quang của mục đích mà họ đang hoàn thành với tư cách là những người cùng cộng tác với Ngài.”—Ellen G. White, The Ministry of Healing, tr. 478, 479.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong tuần qua có những điều gì khiến bạn biết ơn? Có thể có nhiều điều để bạn biết ơn mà bạn không nghĩ đến ?
  2. Suy ngẫm về câu cuối trong lời trích dẫn của Ellen G. White ở trên. Đó là một tuyên bố đức tin rất mạnh mẽ. Làm sao bạn có thể học cách tin cậy Đức Chúa Trời một cách sâu sắc như vậy?
  3. “Trong bốn mươi năm, sự vô tín, lằm bằm và phản loạn đã ngăn cản dân Y-sơ-ra-ên cổ đại vào đất Ca-na-an. Những tội lỗi tương tự đã trì hoãn việc dân Y-sơ-ra-ên hiện đại bước vào xứ Ca-na-an trên trời. Trong cả hai trường hợp, lời hứa của Đức Chúa Trời đều không có lỗi. Chính sự vô tín, tính thế tục, sự không thánh khiết và sự xung đột giữa những người xưng nhận Chúa đã giữ chúng ta trong thế giới tội lỗi và đau khổ này trong nhiều năm. Nếu hội thánh của Đấng Christ đã thực hiện công việc được chỉ định của mình như Chúa đã giao phó, thì toàn thể thế giới trước đây đã được cảnh báo và Đức Chúa Giê-su đã đến trái đất của chúng ta trong quyền năng và vinh quang lớn lao.”—Ellen G. White, Last Day Events, tr. 38.
  4.  

Bài Học 1, 27 Tháng 12 – 2 Tháng 1

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Ê-phê-sô 3:1; 2 Cô-rinh-tô 4:7–12; Công vụ 9:16; Phi-lê-môn 15, 16; Cô-lô-se 4:9; Phi-líp 1:1–3; Cô-lô-se 1:1, 2.

Câu Gốc: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi!” (Phi-líp 4:4)

Phi-líp và Cô-lô-se được gọi là các lá thư tù vì chúng được viết khi Phao-lô đang ở trong tù (các thư khác là Ê-phê-sô và Phi-lê-môn). Hầu hết các nhà bình luận cho rằng các thư này được viết khi Phao-lô ở Rô-ma, khoảng năm 60–62 SC (xem Công vụ 28:16).

Đọc Ê-phê-sô 3:1 và Phi-lê-môn 1. Lời Phao-lô mô tả sự tù đày của mình có ý nghĩa gì?

Phao-lô đã hiến dâng cuộc đời mình để phụng sự Đức Chúa Giê-su Christ. Nếu việc phục vụ đó bao gồm cả việc ngồi tù thì ông cũng sẵn sàng. Phao-lô tự mô tả mình là “một sứ giả trong xiềng xích” (Ê-phê-sô 6:20).

Ông đã từng có những chuyến hành trình truyền giáo, gây dựng các hội thánh và đào tạo biết bao người làm việc cho Chúa. Có thể ông đã tự hỏi: “Sao tôi lại phải ở đây mang những xiềng xích này khi tôi có thể làm được nhiều điều quan trọng hơn?”

Phao-lô ở trong tù khi ông viết thư 2 Ti-mô-thê. Ông đã viết ít nhất năm sách của Tân Ước trong tù. Trong các bức thư tù, Phao-lô không nói chính xác là ông bị giam ở đâu; do đó, một số người đã gợi ý có thể đó là Ê-phê-sô hoặc Sê-sa-rê. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh cho thấy Phao-lô từng bị giam ở Ê-phê-sô. Việc bị giam ở Sê-sa-rê có vẻ hợp lý hơn, ngoại trừ việc vào thời điểm đó, không có mối đe dọa rõ ràng nào trên mạng sống của Phao-lô.

Phao-lô cũng gửi lời chào thăm từ những tín đồ thuộc “người nhà Sê-sa” (Phi-líp 4:22). Điều này cho thấy Phao-lô là một tù nhân ở Rô-ma và có liên lạc với những người phục vụ trong hoàng gia.

Câu hỏi suy gẫm: Chúng ta học được gì về cách tận dụng tối đa bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào mà chúng ta vướng vào? Tại sao điều đó không hề dễ dàng?

Trong khi ở tại Ma-xê-đoan, Phao-lô ghi lại nhiều lần ông bị giam cầm (2 Cô-rinh-tô 6:5; 11:23; 7:5). Trường hợp đầu tiên được ghi lại là tại Phi-líp (Công vụ 16:16–24). Sau đó, ông bị giam tại Giê-ru-sa-lem một thời gian ngắn trước khi bị chuyển đến nhà tù ở Sê-sa-rê. Ở những nơi khác, Phao-lô đề cập đến việc “bị xiềng xích” (Phi-lê-môn 10, 13). Mặc dù bị quản thúc tại gia ở Rô-ma, ông vẫn bị xiềng chung với một người lính La Mã ưu tú. Ignatius, một Cơ Đốc nhân vào đầu thế kỷ thứ hai, cũng bị xiềng xích như vậy, và đã mô tả những người lính hành xử “như những con thú dữ… họ càng hung tợn hơn khi được đối xử tốt.”

Đọc 2 Cô-rinh-tô 4:7–12. Điều gì đã giúp Phao-lô chịu đựng những thử thách mà ông phải trải qua? Trọng tâm của cuộc đời ông là gì?

Dầu cuộc sống có gian nan đến đâu, Phao-lô vẫn có thể nhìn thấy một khía cạnh tươi sáng hơn, và điều đó đã cho ông sự can đảm để gánh chịu những áp lực. Mặc kệ Sa-tan tấn công tới tấp, Phao-lô biết rằng mình không bị bỏ rơi.

Đọc 2 Cô-rinh-tô 6:3–7. Phao-lô có những nguồn lực thuộc linh nào giúp ông đối mặt với các khó khăn này?

Chúng ta thường quay nhìn lại những thất bại hoặc những yếu đuối trong quá khứ rồi trở nên nản lòng. Những lúc như vậy, chúng ta cần nhớ lại tất cả những điều tuyệt vời mà Đức Chúa Trời đã thực hiện để giúp chúng ta thành công trong cuộc chiến chống lại điều ác. Một trong những vũ khí quan trọng nhất chính là Kinh Thánh, “lời chân lý,” vì chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của người khác và cũng học được cách họ đã thành công. Ngoài ra, Đức Thánh Linh làm cho những gì Đấng Cứu Chuộc đã thực hiện trở nên hiệu quả; nhờ Đức Thánh Linh mà tấm lòng được thanh sạch. Qua Đức Thánh Linh, người tin Chúa trở thành người dự phần vào bản tính thiêng liêng. Đấng Christ đã ban Đức Thánh Linh của Ngài như một quyền năng thiêng liêng để chiến thắng mọi khuynh hướng—dù do di truyền hay nuôi dưỡng—dẫn đến điều ác, và để khắc ghi chính cá tính Ngài trên hội thánh Ngài.

Làm thế nào chúng ta, dù là tín đồ hay mục sư, có thể luôn chứng tỏ mình “như kẻ hầu việc Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 6:4)? Điều đó có nghĩa gì?

Trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô, sau khi Ti-mô-thê được thêm vào nhóm, Đức Thánh Linh đã cấm họ tiếp tục đi qua Tiểu Á (Công vụ 16:6). Vì vậy, trong một khải tượng ban đêm, Phao-lô thấy một người đàn ông cầu xin: “Hãy qua xứ Ma-xê-đoan mà cứu giúp chúng tôi” (Công vụ 16:9). Do đó, họ lập tức đi đến hải cảng gần Ma-xê-đoan nhất và đi thuyền từ Trô-ách qua Biển Aegean đến Neapolis, trên lục địa châu Âu. Tuy nhiên, thay vì truyền bá phúc âm tại đó, Phao-lô, Si-la, Ti-mô-thê và Lu-ca (“chúng tôi” trong Công vụ 16:11) đã đi đến Phi-líp.

Trong công việc truyền giáo của mình, Phao-lô luôn suy nghĩ một cách có chiến lược. Phi-líp là “thành phố thứ nhất của tỉnh Ma-xê-đoan” (Công vụ 16:12). Trên thực tế, đây là một trong những thành phố cao trọng nhất của Đế quốc La Mã và được trao danh hiệu Ius Italicum, danh hiệu cao nhất có thể ban cho một thành phố. Công dân nơi đây có những đặc quyền như công dân La Mã, bao gồm miễn thuế đất và thuế đầu người. Phi-líp cũng là một điểm dừng chân quan trọng trên Via Egnatia, tuyến đường bộ chính nối La Mã với phương Đông. Việc thiết lập một sự hiện diện mạnh mẽ của Cơ Đốc giáo tại đây đã giúp phúc âm được lan truyền đến nhiều thành phố lân cận như Am-phi-pô-lit, A-pô-lô-ni-a, Tê-sa-lô-ni-ca và Bê-rê.

Mặc dù ngôn ngữ chính thức tại Phi-líp vào thế kỷ thứ nhất là tiếng La-tinh, tiếng Hy Lạp vẫn là ngôn ngữ phổ biến của dân chúng và các thành phố xung quanh, đồng thời là phương tiện chính để truyền bá phúc âm. Lu-ca mô tả cách Phao-lô và nhóm của ông gặp gỡ những người cầu nguyện bên bờ sông, nơi Ly-đi-a và cả gia đình bà đã tin Chúa (Công vụ 16:13–15). Là một nữ thương gia bán vải tím, Ly-đi-a có thể là một trong những người hỗ trợ tài chính quan trọng cho chức vụ của Phao-lô tại Phi-líp. Thời gian Phao-lô và Si-la ở trong tù tại đây cũng đã dẫn đến sự cải đạo của cả gia đình viên cai ngục.

Mặc dù Đức Thánh Linh biết rằng Phi-líp sẽ là một bàn đạp lý tưởng cho việc truyền bá phúc âm khắp châu Âu, sự đàn áp cũng sẽ xảy ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chính sự đàn áp đó lại giúp phúc âm đến với những người mà nếu không có nó, họ có lẽ sẽ không bao giờ được tiếp cận phúc âm.

Công vụ 9:16 giúp chúng ta hiểu thế nào về những gian nan của Phao-lô? Điều đó giúp gì cho chúng ta hiểu về những gian nan của chính mình?

Chúng ta không có chi tiết nào cho biết Phao-lô từng trực tiếp đến Cô-lô-se, và điều này cho thấy phần nào hiệu quả trong chiến lược truyền giáo của ông. Trước hết, chính Ê-pháp-ra, một người bản xứ tại Cô-lô-se (Cô-lô-se 4:12), đã mang phúc âm đến thành phố này (Cô-lô-se 1:7). Ê-pháp-ra tin Chúa như thế nào? Có thể là trong những năm 50, khi Phao-lô đang ở Ê-phê-sô, nơi Kinh Thánh cho biết rằng “hết thảy mọi người ở A-si-a đều nghe đạo Chúa” (Công vụ 19:10; so sánh Công vụ 20:31).

Sách Khải huyền cho thấy phúc âm đã lan rộng khắp khu vực này (Khải huyền 1:4). Cách giải thích hợp lý nhất cho sự thành công đó, bao gồm việc phúc âm được truyền đến Cô-lô-se, là kết quả của công việc những người cải đạo qua chức vụ của Phao-lô. Những người này trước tiên đã nghe sứ điệp tại Ê-phê-sô, một thành phố quan trọng của Tiểu Á và là trung tâm giao thương lớn, rồi sau đó mang phúc âm về quê hương mình. Ê-pháp-ra đã nghe Phao-lô rao giảng tại Ê-phê-sô và trở thành một trong những người cộng sự của ông, sau đó đem phúc âm về Cô-lô-se.

Cô-lô-se nằm cách Lao-đi-xê khoảng 15 km về phía đông nam. Thành phố này chỉ mới được khai quật trong thời gian gần đây, nên chúng ta không biết nhiều về nó so với những thành phố nổi tiếng khác trong vùng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng nơi đây có một cộng đồng Do Thái đông đảo, ước tính khoảng mười nghìn người sinh sống trong khu vực Phrygia. Cũng như nhiều thành phố La Mã khác, Cô-lô-se chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các tập tục ngoại giáo và đa thần giáo, tạo nên những thách thức lớn cho các Cơ Đốc nhân, không chỉ trong việc truyền bá phúc âm mà còn trong việc giữ vững đức tin thuần khiết.

Một Cơ Đốc nhân nổi tiếng khác tại Cô-lô-se là Phi-lê-môn, người có thể đã tin Chúa cùng thời điểm với Ê-pháp-ra. Ô-nê-sim, một nô lệ của Phi-lê-môn, sau khi bỏ trốn đã gặp Phao-lô và tin Chúa, rồi được Phao-lô gửi trở lại cho chủ mình cùng với bức thư Phi-lê-môn.

Đọc Phi-lê-môn 15, 16. Xem thêm Cô-lô-se 4:9. Phao-lô đã nhẹ nhàng khuyên Phi-lê-môn đối xử với Ô-nê-sim như thế nào?

Mặc dù luật La Mã buộc Phao-lô phải trả Ô-nê-sim về cho Phi-lê-môn, Phao-lô đã kêu gọi tấm lòng và lương tâm của Phi-lê-môn như một người cùng đức tin. Ông khuyến khích Phi-lê-môn tiếp nhận Ô-nê-sim không còn như một nô lệ, mà như một người anh em yêu dấu trong Đấng Christ (Phi-lê-môn 16).

Dù ngày nay chúng ta hoàn toàn phản đối chế độ nô lệ dưới mọi hình thức, và dù Phao-lô không trực tiếp lên án chế độ này trong bối cảnh lịch sử của ông, những lời khuyên của Phao-lô đã đặt nền tảng cho nguyên tắc Cơ Đốc về phẩm giá và sự bình đẳng của con người trước mặt Đức Chúa Trời.

Đọc Phi-líp 1:1–3 và Cô-lô-se 1:1, 2. Hội thánh tại Phi-líp và Cô-lô-se được mô tả ra sao và điều đó có ý nghĩa gì?

Trong các bức thư gửi cho các hội thánh, Phao-lô thường gọi các tín hữu là “thánh đồ,” có nghĩa là qua báp-tem họ đã được biệt riêng làm dân sự đặc biệt của Đức Chúa Trời, tương tự như dân Y-sơ-ra-ên xưa kia. Khái niệm này hoàn toàn không liên quan đến việc phong thánh theo truyền thống của Giáo hội La Mã, mà nhấn mạnh rằng toàn thể tín hữu, nhờ ở trong Đấng Christ, đều được biệt riêng cho mục đích thánh của Đức Chúa Trời.

Lời chào trong hai bức thư cũng rất đáng chú ý. Phao-lô đề cập đến “các giám mục và chấp sự” trong Phi-líp 1:1 và “những anh em trung tín trong Đấng Christ” trong Cô-lô-se 1:2. Trong Tân Ước, cụm từ “những anh em trung tín” thường chỉ những người giữ vai trò và trách nhiệm cụ thể trong hội thánh. Vì vậy, các thư này không chỉ được gửi cho các tín hữu nói chung mà còn trực tiếp cho các nhà lãnh đạo hội thánh tại địa phương.

Việc nhắc đến các chức vụ được mô tả chi tiết hơn trong 1 Ti-mô-thê 3:1–12 và Tít 1:5–9 cho thấy tổ chức hội thánh đã hiện hữu và được coi trọng ngay từ giai đoạn rất sớm. Điều này chứng minh rằng, ngay từ buổi đầu, hội thánh đã có cấu trúc và trật tự rõ ràng để phục vụ cho sự phát triển thuộc linh và công việc truyền giáo.

Việc huấn luyện những người cộng sự như Ti-mô-thê và Ê-pháp-ra, đồng thời gây dựng đội ngũ lãnh đạo cho các hội thánh địa phương, là ưu tiên quan trọng trong chức vụ của Phao-lô. Chiến lược này không chỉ giúp duy trì công việc truyền giáo tại chỗ mà còn tạo nền tảng cho sự tăng trưởng lâu dài của hội thánh ở nhiều khu vực khác nhau.

Những người Cơ Đốc Phục Lâm tiên phong đã noi theo mô hình tổ chức hội thánh trong Tân Ước, điều này được phản ánh qua nhiều bài viết trong Advent Review and Sabbath Herald vào những năm 1850. James White từng nhấn mạnh rằng trật tự thiêng liêng của Tân Ước là đủ để tổ chức hội thánh của Đấng Christ, và nếu cần thêm điều gì, Đức Chúa Trời sẽ ban cho qua sự soi dẫn của Ngài.

Phao-lô đôi khi sử dụng lối văn mang tính cộng tác khi viết thư, và Ti-mô-thê thường được nêu tên như người đồng gửi thư. Tuy nhiên, việc Phao-lô chuyển từ “chúng tôi” sang “tôi” trong nội dung thư cho thấy thẩm quyền sứ đồ của ông vẫn là nền tảng đứng sau các bức thư này.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

Đức Chúa Trời đã chuẩn bị để con người được cứu rỗi qua sự thánh hóa của tâm linh và đức tin vào lẽ thật. Vì vậy, người phục sự Đức Chúa Trời cách tín trung sẽ phải đối diện với sự chống đối và thành kiến, nhưng không nên tức giận hay trả thù khi phải chịu đau khổ một cách bất công. Người tin Chúa được kêu gọi giữ vững sự chính trực trong Đức Chúa Giê-su Christ, hướng mắt mình lên trời, tiếp tục bước đi trong sự nhu mì và khiêm nhường của Đấng Christ, kiên trì làm công việc của mình với tấm lòng trong sạch, bằng tất cả sức lực và khả năng, và hoàn toàn nương cậy vào cánh tay của Đức Chúa Trời. Giá trị thật của đời sống và công việc chỉ có thể được đo lường trong ánh sáng của sự sống đã được ban cho để cứu rỗi con người.

Mỗi linh hồn đang trưởng thành trong Đấng Christ sẽ phải trải qua những cuộc chiến đấu nghiêm túc và liên tục, vì các thế lực của bóng tối quyết tâm chống lại con đường tiến tới của họ. Tuy nhiên, khi người tin Chúa hướng về thập giá của Đấng Christ để nhận lãnh ân điển, họ không thể bị đánh bại. Lời hứa của Đấng Cứu Chuộc vẫn vững chắc rằng Ngài sẽ không bao giờ lìa bỏ hay bỏ rơi con dân Ngài, và Ngài luôn ở cùng họ cho đến tận thế.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Phao-lô đã bị bỏ tù nhiều lần, luôn luôn cách bất công. Bạn phản ứng thế nào khi bị đối xử không công bằng? Những lời hứa nào trong Kinh Thánh giúp bạn đứng vững trong những hoàn cảnh như vậy?
  2. Về sự đàn áp các Cơ Đốc nhân, Tertullian từng nói rằng: “Chúng tôi càng bị đánh gục, chúng tôi càng đông đảo; máu của các Cơ Đốc nhân là hạt giống.” Tuy nhiên, ở nhiều nơi, sự đàn áp cũng đã cản trở nghiêm trọng công việc của hội thánh. Chúng ta có thể hỗ trợ những người đang bị đàn áp vì đức tin của họ bằng những cách cụ thể nào?
  3. Hãy suy gẫm câu gốc của tuần này dưới ánh sáng những khó khăn mà Phao-lô đã phải chịu đựng: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn.” Điều này có nghĩa gì trong những hoàn cảnh đau khổ như bệnh tật, mất mát, hay thất nghiệp? Làm thế nào chúng ta có thể thực hành điều này trong đời sống hằng ngày? Có phải chìa khóa nằm ở việc tự hỏi: “Hãy vui mừng luôn luôn trong điều gì?”